Chuyển tới nội dung chính
Bỏ qua Điều hướng

Điều hướng

  • Trang chủ

    • hueic-lms

      • Các khoá học của tôi

      • Thẻ

      • Diễn đànSite announcements

    • Các khoá học của tôi

    • Khoá học

      • (bị ẩn)

        • (bị ẩn)

          • do-hoa-ung-dung

          • co-so-du-lieu

          • lap-trinh-co-ban-cd

          • mo-phong-he-thong-mang

          • quan-tri-mail-va-proxy-server

          • tieng-anh-du-lich

          • thiet-ke-va-dieu-hanh-tour

          • du-lich-sinh-thai

          • du-lich-am-thuc

          • he-thong-cac-tuyen-diem-thang-canh-danh-lam-va-du-...

          • du-lich-le-hoi-va-su-kien

          • kinh-te-du-lich

          • pham-chat-dao-duc-nghe-huong-dan-du-lich

          • lich-su-viet-nam

          • thanh-toan-quoc-te

            • Chung

            • Bài 1: Tỷ giá hối đoái

            • Bài 2: Thị trường ngoại hối

            • Bài 3: Các phương tiện thanh toán quốc tế

            • Bài 4: Các phương thức thanh toán quốc tế

              • TrangGiới thiệu

              • Bài họcNội dung

              • Bài tậpLuyện tập vận dụng

              • Trắc nghiệmKiểm tra đánh giá

          • ke-toan-thuong-mai

          • ke-toan-tai-chinh-2

          • quan-tri-marketing

        • Ngắn hạn

        • dien-tu-co-ban

        • mh05-tin-hoc-cd

      • Các Khoá học

        • Hệ Cao đẳng

          • Khoa Công nghệ hóa Môi trường

          • Khoa Công nghệ thông tin - Truyền thông

            • Chuyên ngành

              • Công nghệ thông tin - Ứng dụng phần mềm

              • Mạng máy tinh - Truyền thông

              • Thương mại điện tử

              • Tin học ứng dụng

            • Cơ sở ngành

          • Khoa Cơ Khí

          • Khoa Điện - Điện tử

          • Khoa Động lực - Ô tô

          • Khoa Khoa học cơ bản

          • Khoa Kinh Tế

          • Khoa Nhiệt lạnh

            • Ngành Công Nghệ Kỹ thuật Xây dựng

          • Khoa Kỹ thuật Đô thị

          • Môn chung

        • Phòng Đào tạo

        • Thư viện số

      • Trung tâm sát hạch

      • Trung học phổ thông

        • Khối 12

        • Khối 11

        • Khối 10

  • Đóng
    Chuyển đổi chọn tìm kiếm
  • Vietnamese ‎(vi)‎
    • English ‎(en)‎
    • Vietnamese ‎(vi)‎
Logo

Hệ thống quản trị đào tạo trực tuyến

Trường Cao đẳng Công nghiệp Huế

  • Đào tạo
  • Khoá học
    • Tất cả khoá học
    • Khoa Công nghệ thông tin - Kinh tế số
      • Công nghệ thông tin - Ứng dụng phần mềm
      • Tin học ứng dụng
      • Thương mại điện tử
      • Mạng máy tính
    • Khoa Khoa học cơ bản
    • Khoa Nhiệt lạnh
    • Khoa Cơ khí - Ô tô
    • Khoa Điện
    • Khoa Kinh tế
    • Tìm khoá học
  • Ngân hàng đề thi
    • Tất cả khoá học
    • Khoa Công nghệ thông tin - Truyền thông
      • Công nghệ thông tin - Ứng dụng phần mềm
      • Tin học ứng dụng
      • Thương mại điện tử
      • Mạng máy tính
    • Khoa Khoa học cơ bản
    • Khoa Nhiệt lạnh
    • Khoa Ô tô
    • Khoa Kỹ thuật đô thị
    • Khoa Điện
    • Khoa Cơ khí
    • Khoa Kinh tế
  • Thư viện số
    • Khoa CNTT và Kinh tế số
    • Khoa cơ khí – ô tô
    • Khoa đIện – đIện tử
    • Khoa Nhiệt lạnh
    • Khoa Khoa học cơ bản
  • Full screen
  • Standard view
Đào tạo Khoá học Rút gọn Mở rộng
Tất cả khoá học Khoa Công nghệ thông tin - Kinh tế số Rút gọn Mở rộng
Công nghệ thông tin - Ứng dụng phần mềm Tin học ứng dụng Thương mại điện tử Mạng máy tính
Khoa Khoa học cơ bản Khoa Nhiệt lạnh Khoa Cơ khí - Ô tô Khoa Điện Khoa Kinh tế Tìm khoá học
Ngân hàng đề thi Rút gọn Mở rộng
Tất cả khoá học Khoa Công nghệ thông tin - Truyền thông Rút gọn Mở rộng
Công nghệ thông tin - Ứng dụng phần mềm Tin học ứng dụng Thương mại điện tử Mạng máy tính
Khoa Khoa học cơ bản Khoa Nhiệt lạnh Khoa Ô tô Khoa Kỹ thuật đô thị Khoa Điện Khoa Cơ khí Khoa Kinh tế
Thư viện số Rút gọn Mở rộng
Khoa CNTT và Kinh tế số Khoa cơ khí – ô tô Khoa đIện – đIện tử Khoa Nhiệt lạnh Khoa Khoa học cơ bản
  1. Khoá học
  2. (bị ẩn)
  3. (bị ẩn)
  4. thanh-toan-quoc-te
  5. Bài 4: Các phương thức thanh toán quốc tế
  6. Nội dung

Nội dung

Các yêu cầu hoàn thành

4.1. PHƯƠNG THỨC CHUYỂN TIỀN (Remittance)  

4.1.1 Định nghĩa   

Phương thức chuyển tiền là phương thức mà trong đó khách hàng - người trả tiền - yêu cầu ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho một người khác - người hưởng lợi, ở một địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển tiền do khách yêu cầu.  

Phương tiện chuyển tiền: các phương tiện có thể chuyển được lệnh chuyển tiền. Ví dụ: thư, điện tín... 

Các bên tham gia trong phương thức chuyển tiền: 

  • Người trả tiền (người mua, người mắc nợ, hoặc người chuyển tiền, người đầu  tư, kiều bào chuyển tiền về nước, người chuyển kinh phí ra nước ngoài): là người yêu cầu ngân hàng chuyển tiền ra nước ngoài.  

  • Người hưởng lợi: người bán, chủ nợ, người tiếp nhận vốn đầu tư - hoặc là người nào đó do người chuyển tiền chỉ định.  

  • Ngân hàng chuyển tiền là ngân hàng ở nước người chuyển tiền.  

  • Ngân hàng đại lý của ngân hàng chuyển tiền: là ngân hàng ở nước người hưởng lợi.  

4.1.2. Trình tự thực hiện nghiệp vụ  

Group 70, Grouped object  

 (1) Giao dịch thương mại   

(2) Người chuyển tiền viết đơn yêu cầu chuyển tiền (bằng thư hoặc điện) cùng ủy nhiệm chi (nếu có tài khoản mở tại Ngân hàng)  

(3) Ngân hàng nhận chuyển tiền ra lệnh cho ngân hàng đại lý của nó ở nước ngoài chuyển tiền cho người hưởng lợi    

(4) Ngân hàng đại lý chuyển tiền cho người hưởng lợi  

Các nghiệp vụ ngân hàng chuyển tiền   

Đối với ngân hàng có hai nghiệp vụ chuyển tiền đi và chuyển tiền đến.  

Khi chuyển tiền đi, nghiệp vụ ngân hàng diễn ra theo 4 bước: (1) tiếp nhận hồ sơ xin chuyển tiền; (2) Kiểm tra hồ sơ chuyển tiền đi; (3) Lập điện chuyển tiền và (4) Hạch  toán - Lưu hồ sơ. 

Khi chuyển tiền đến, ngân hàng thực hiện thanh toán theo ba bước: (1) Tiếp nhận lệnh chuyển tiền; (2) Thanh toán cho người hưởng lợi và (3) Lưu hồ sơ.  

Các yêu cầu về chuyển tiền  

Muốn chuyển tiền ra nước ngoài phải có giấy phép của Bộ chủ quản và hoặc Bộ Tài chính. Chuyển tiền thanh toán trong ngoại thương phải có các giấy tờ sau đây:   

(1) Hợp đồng mua bán ngoại thương   

(2) Bộ chứng từ gửi hàng của người xuất khẩu gửi đến  

(3) Giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu   

(4) Ủy nhiệm chi ngoại tệ và phí chuyển tiền  

Người chuyển tiền cần viết đơn chuyển tiền gửi đến Ngân hàng ngoại thương hoặc một ngân hàng thương mại được phép thanh toán quốc tế, trong đơn cần ghi đủ:  

(1) Tên địa chỉ của người hưởng lợi, số tài khoản nếu người hưởng lợi yêu cầu  

(2) Số ngoại tệ xin chuyển cần ghi rõ bằng số và bằng chữ, loại ngoại tệ   

(3) Lý do chuyển tiền  

(4) Những yêu cầu khác  

(5) Ký tên, đóng dấu  

Trường hợp chuyển tiền cá nhân, theo qui định Quản lý ngoại hối của NHNN Việt Nam các khoản ngoại tệ muốn chuyển ra nước ngoài đều phải  có nguồn gốc từ nước ngoài đưa vào và khi muốn chuyển ra thì chỉ trong phạm vi số tiền đó mà  thôi. Nếu khách hàng muốn chuyển tiền cho nhu cầu cá nhân như  học tập, công tác ... phải có sự đồng ý của NHNN Việt Nam và hồ sơ chuyển tiền phải bao gồm (1) đơn xin chuyển  tiền;  (2) bảng thông báo chi phí học tập hoặc viện phí từ phía nước ngoài; (3) giấy phép xuất ngoại hối của NHNN và các chứng từ khác có liên quan.   

Kiểm tra hồ sơ chuyển tiền  

Thông thường Ngân hàng kiểm tra các nội dung sau:   

  (1) Tên và số tài khoản của người chuyển tiền  

  (2) Tên và số tài khoản của người thụ hưởng  

  (3) Số tiền xin chuyển  

  (4) Phí dịch vụ ngân hàng phải xác định rõ ai sẽ chịu chi phí này, người chuyển tiền hay người hưởng lợi  

  (5) Người ra lệnh chuyển tiền phải là chủ tài khoản có đăng ký chữ ký và con dấu tại ngân hàng  

  (6) Kiểm tra phương thức thanh toán ghi trong hợp đồng mua bán  

  (7) Kiểm tra  sự thống nhất của số tiền ghi trên hợp đồng, trên tờ khai hải quan, trên hoá đơn và trên đơn xin chuyển tiền  

  (8) Kiểm tra bộ chứng từ.  

4.1.3. Hình thức chuyển tiền   

Chuyển tiền có thể thực hiện dưới hai hình thức: chuyển bằng thư (Mail  transfer - M/T) và chuyển tiền bằng điện (Telegraphic transfer - T/T).  

  • Chuyển tiền bằng thư 

Ngân hàng thực hiện chuyển tiền bằng cách gởi thư ra lệnh cho ngân hàng đại lý ở nước ngoài trả tiền cho người nhận. 

Hình thức này tương đối chậm, khả năng rủi ro cao, có thể dễ bị ảnh hưởng biến động của tỷ giá nhưng chi phí chuyển tiền thấp. 

  • Chuyển tiền bằng điện 

Ngân hàng thực hiện chuyển bằng cách điện ra lệnh cho ngân hàng đại lý ở nước ngoài trả tiền cho người nhận. 

Hình thức này nhanh, rủi ro thấp nhưng chi phí cao. 

Có hai hình thức: chuyển tiền bằng điện thông thường (Telex) và chuyển tiền thông qua mạng Swift 

 

 

 

LỆNH CHUYỂN TIỀN RA NƯỚC NGOÀI       

Application for remittance 

Số/ Ref no.: ........................                            

KÍNH GỬI:………………………………………………………….................. 

Với trách nhiệm thuộc về phần mình, Chúng tôi đề nghị Quý Ngân hàng ghi Nợ Tài khoản của chúng tôi tại Quý Ngân hàng  

Tài khoản ngoại tệ số:……….……. ………………..để phát hành lệnh chi và thu phí liên quan với nội dung như sau: 

o Swift       o Séc(Bank draft) 

o Ứng trước thanh toán 

o Thực hiện thanh toán 

 

32A - Loại tiền, số tiền (Currency, Amount): 

Số tiền bằng chữ(Amt in words): 

 

50 - Người ra lệnh, địa chỉ (Ordering Customer, Address): 

 

56 - Ngân hàng trung gian (Intermediary): 

SWIFT Code: .................................................... 

OTHER: .......................................... 

 

57 - Ngân hàng người thụ hưởng (Beneficiary's Bank):  

SWIFT Codeo/ Sort codeo/BLZo/Fedwireo/Chipso/ BSBo/ A/c No o. .................................................... 

 

 

59 - Người thụ hưởng (Beneficiary): 

       Địa chỉ 

       Tài khoản số (A/C no or IBAN no): 

70 - Nội dung thanh toán (Details of Payment): 

 

71- Phí do người chuyển tiền chịu (OUR) o       Phí trích từ TK số /Debit a/c no   o 

All charges to be borne by remitter                             ……………………… 

      Phí do người hưởng chịu          (BEN) o       Dịch vụ không trừ Phí:              o 

All charges to be borne by beneficiary                           No deduct 

      Phí chia sẻ cho  hai bên            (SHA) o       Dịch vụ trừ Phí một lần:            o 

Charges to be shared                                                           One deduct 

Chúng tôi cam kết 

  • Chịu mọi trách nhiệm có liên quan đến Lệnh chuyển tiền này, tuân thủ mọi quy định hiện hành của NHNN và các điều kiện chuyển tiền của EIB (đính kèm ở mặt sau)  

  • Nội dung tờ khai HQ hoàn toàn đúng với Invoice. Không thanh toán trùng dụng lệnh chuyển tiền này  

  • Bổ sung tờ khai HQ và các chứng từ liên quan cho Ngân hàng chậm nhất là 45 ngày kể từ ngày chuyển tiền trong trường hợp ứng trước tiền hàng. Nếu không bổ sung đúng thời hạn nêu trên, chúng tôi cam kết gửi văn bản giải trình cho Ngân hàng hoặc chịu trách nhiệm hoàn toàn trước pháp luật về việc chậm trễ hoặc không bổ sung đầy đủ các chứng từ trên. 

  • Những chứng từ kèm theo lệnh chuyển tiền này bản sao và bản chính là hoàn toàn giống nhau, mọi sai sót, nhầm lẫn sẽ do chúng tôi chịu trách nhiệm. 

             Ngày        tháng           năm 

            KẾ TOÁN TRƯỞNG                     

                CHỦ TÀI KHOẢN 

(Ký và ghi rõ họ tên) 

(Ký, ghi rõ họ tên, đóng dấu) 

 

Nhận xét:   

Phương thức chuyển tiền thủ tục đơn giản, nhanh chóng, tiện lợi. Ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian thanh toán, việc trả tiền nhanh hay chậm hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng và thiện chí người chuyển tiền hay người trả tiền, nếu trong quan  hệ thương mại thì đó chính là người mua, người nhập khẩu. Do vậy phương thức này không đảm bảo quyền lợi cho người xuất khẩu, tức là người hưởng lợi, tốc độ thanh toán thường chậm.    

Trường hợp áp dụng  

Do phương thức chuyển tiền mức độ an toàn trong thanh toán thấp, nó chỉ nên sử dụng cho các mối quan hệ giữa các đối tác tin cậy lẫn nhau hoặc quy mô thanh  toán nhỏ. Nó thường được áp dụng cho các trường hợp chuyển vốn đầu tư, chuyển tiền tư nhân, chuyển tiền chính phủ, chuyển lợi nhuận ra nước ngoài hoặc cho các nghiệp vụ thanh toán phi mậu dịch khác. Trong quan hệ thanh toán mậu dịch, không nên sử dụng trong thanh toán hàng xuất khẩu mà chỉ nên sử dụng trong thanh toán hàng nhập khẩu. 

4.2. PHƯƠNG THỨC NHỜ THU (Collection of Payment)  

Phương thức nhờ thu hay còn gọi là ủy thác thu được thực hiện trên tinh thần Quy tắc thống nhất về nhờ thu chứng từ thương mại (Uniform rules for the collection of commercial paper, 1967 revision – ICC) do phòng thương mại quốc tế ICC ban hành năm 1967. Nhằm đáp ứng cho nhu cầu thực tiễn thương mại quốc tế mà quy tắc này được sửa đổi năm 1978. Hiện nay sửa đổi mới nhất của ICC về quy tắc thống nhất nhờ thu là vào năm 1995, bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/1/1996. 

4.2.1. Định nghĩa 

Phương thức nhờ thu là một phương thức thanh toán trong đó người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng một dịch vụ cho khách hàng ủy thác cho ngân hàng của mình thu hộ số tiền ở người mua trên cơ sở hối phiếu của người bán lập ra có điều kiện hoặc không có điều kiện. 

Các bên tham gia phương thức nhờ thu   

  • Người ra chỉ thị nhờ thu (Principal): Người bán tức là người hưởng lợi. 

  • Ngân hàng “chuyển”  (Remitting Bank) là ngân hàng mà người nhờ thu đã giao chỉ thị nhờ thu. Ngân hàng này thường là ngân hàng của người bán. 

  • Ngân hàng thu hộ tiền (Collecting Bank): có nhiệm vụ thu hộ tiền nơi người mua, thường là đại lý của ngân hàng bên bán ở nước ngoài. 

  • Ngân hàng xuất trình (Presenting Bank) là ngân hàng có nghĩa vụ xuất trình chứng từ đến người trả tiền. 

  • Người mua tức là người trả tiền (Drawee)   

4.2.2. Các loại nhờ thu  

Trên thực tế, có hai loại nhờ thu là nhờ thu trơn và nhờ thu kèm chứng từ.  

a. Nhờ thu trơn (Clean Collection): 

 Khái niệm: là phương thức trong đó người bán ủy thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở người mua căn cứ vào hối phiếu do mình lập ra, còn chứng từ thì gửi thẳng cho người mua không qua ngân hàng.   

Trình tự tiến hành nghiệp vụ của nhờ thu phiếu trơn phải trải qua các bước sau đây  

 

 

 

 

 

Group 52, Grouped object 

 

 

  1. Người XK giao hàng và bộ chứng từ hàng hoá cho người NK 

  1. Người XK lập chỉ thị nhờ thu và hối phiếu nộp vào ngân hàng để uỷ thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở người NK 

  1. NH nhận uỷ thác chuyển chỉ thị nhờ thu và hối phiếu cho ngân hàng đại lý để thông báo cho người NK biết. 

  1. NH đại lý chuyển hối phiếu cho người NK để yêu cầu chấp nhận hay thanh toán. Nếu hợp đồng thoả thuận điều kiện thanh toán D/A, người NK chỉ cần chấp nhận thanh toán, nếu là D/P người NK phải thanh toán ngay cho người XK. 

  1. Người NK thông báo đồng ý trả tiền hay từ chối thanh toán 

  1. Ngân hàng đại lý trích tiền từ tài khoản của người NK chuyển sang ngân hàng uỷ thác thu để ghi có cho người XK trong trường  hợp người NK đồng ý trả tiền hoặc thông báo cho ngân hàng uỷ thác thu biết trong trường hợp người NK từ chối trả tiền. 

  1. NH nhận uỷ thác thu ghi CÓ và báo CÓ cho người XK hoặc thông báo cho người XK biết việc người NK từ chối trả tiền. 

Nhận xét và trường hợp áp dụng  

Phương thức nhờ thu phiếu trơn không được áp dụng nhiều trong thanh toán về mậu dịch, vì nó không đảm bảo quyền lợi cho người bán do việc nhận hàng của người mua hoàn toàn tách rời khỏi khâu thanh toán, người mua có thể nhận hàng và không trả tiền hoặc chậm trả tiền. Đối với người mua áp dụng phương thức này cũng có điều bất lợi vì nếu hối phiếu đến sớm hơn chứng từ, người mua phải trả tiền ngay trong khi không biết việc giao hàng của người bán có đúng hợp đồng hay không.  

b. Nhờ thu kèm chứng từ (Documnetary Collection) 

Khái niệm: Phương thức nhờ thu kèm chứng từ là phương thức trong đó người bán ủy thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở người mua không những căn cứ vào hối phiếu mà còn căn cứ vào bộ chứng từ gửi hàng kèm theo với điều kiện là nếu người mua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu thì ngân hàng mới trao bộ chứng từ gửi hàng cho người mua để nhận hàng.  

Trình tự tiến hành nghiệp vụ nhờ thu kèm chứng từ cũng giống như nhờ thu  phiếu trơn, chỉ khác ở khâu (1) là lập một bộ chứng từ nhờ ngân hàng thu hộ tiền. Bộ chứng từ gồm có hối phiếu và các chứng từ gửi hàng kèm theo, ở khâu (3) là ngân hàng đại lý chỉ trao cho người mua nếu như người mua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu.  

Nhận xét và trường hợp áp dụng  

Trong nhờ thu kèm chứng từ, người ủy thác cho ngân hàng ngoài việc thu hộ tiền còn nhờ ngân hàng khống chế chứng từ gửi hàng đối với người mua, nhờ đó quyền lợi của người bán được đảm bảo hơn. Đây là sự khác nhau cơ bản giữa nhờ thu kèm chứng từ và nhờ thu phiếu trơn.  

Tuy vậy, nhờ thu kèm chứng từ có một số mặt yếu. Người bán thông qua ngân hàng mới khống chế được quyền định đoạt hàng hóa của người mua chứ chưa khống chế được việc trả tiền của người mua. Người mua có thể kéo dài việc trả tiền bằng cách chưa nhận chứng từ hoặc có thể không trả tiền cũng được khi tình hình thị trường bất lợi với họ, dẫn đến việc người mua có thể kéo dài thời gian thanh toán vài tháng hoặc nửa năm. Trong phương thức này ngân hàng chỉ đóng vai trò là người trung gian thu tiền hộ còn không có trách nhiệm về việc trả tiền của người mua.  

Những vấn đề sử dụng phương thức nhờ thu  

Thứ nhất, văn bản pháp lý quốc tế thông dụng của nhờ thu là Quy tắc thống nhất về nhờ thu số 522 của Phòng Thương mại Quốc tế, bản sửa đổi năm 1995 (Uniform Rules for the collection,1995 Revision N0522, ICC).  

Muốn sử dụng quy tắc này, hai bên mua bán phải thống nhất quy định trong hợp đồng. Người bán phải lập một chỉ thị nhờ thu gửi đến ngân  hàng đại diện của mình nhờ thu hộ tiền. Trong chỉ thị nhờ thu người bán phải đề ra những điều kiện nhờ  thu và được ngân hàng chấp nhận. Đây là chứng từ pháp lý cụ thể điều chỉnh quan hệ giữa người bán và ngân hàng phục vụ bên bán.  

Thứ hai, nội dung chỉ thị nhờ thu thường bao gồm:  

Điều kiện trả tiền là D/A hay D/P. Theo điều kiện D/P (Documentary Against Payment), người mua phải trả tiền hối phiếu thì ngân hàng mới trao bộ chứng từ gửi hàng cho họ. Theo điều kiện D/A (Documentary Against Acceptance), hành động trả tiền được thay bằng hành động chấp nhận trả tiền. Trường hợp này dùng cho việc bán chịu hàng ngắn ngày của người bán cho người mua.  

Thứ ba, chi phí nhờ thu ai chịu? Về chi phí nhờ thu có thể quy định như sau:  

Người bán chịu chi phí và lệ phí ngân hàng nhận ủy thác, người mua chịu chi phí cho ngân hàng đại lý, nếu không quy định thì ngân hàng thu hộ phải gánh chịu. Trong trường hợp bị từ chối thanh toán hợp lý, có khi người bán chịu luôn cả chi phí và lệ phí của ngân hàng đại lý. Trong trường hợp nhờ thu bằng điện (Telegraphic Transfer), người bán phải chịu thêm chi phí điện tín.  

Thứ tư, trong trường hợp hàng đến trước chứng từ, người mua có thể yêu cầu  ngân hàng cấp giấy đảm bảo với hãng tàu để nhận hàng. Muốn nhận được giấy bảo đảm của ngân hàng, người mua phải trao cho ngân hàng giấy cam kết đối tịch (Counter Indemnity). Thuyền trưởng chỉ giao hàng cho người mua, nếu trên giấy bảo đảm của ngân hàng (Letter Indemnity) có hai chữ ký, một của ngân hàng, một của người mua.  

Thứ năm, trong trường hợp người mua từ chối thanh toán và không nhận hàng thì cách giải quyết về lô hàng đó như thế nào? Trong trường hợp này, đầu tiên là phải ủy thác ngay cho cơ quan nào đó hay cho ngân hàng đại lý lưu kho lô hàng bị từ chối thanh toán. Nếu ủy thác chậm, chủ tàu có thể lưu lô hàng đó vào kho của hãng  tàu,  nếu chở bằng Liner. Kinh nghiệm cho thấy, hàng được lưu kho ở hệ thống công cộng ở Hồng Kông và Singapore chịu chi phí thấp hơn nhiều so với tàu biển. Cách giải quyết lô hàng này có thể là giảm giá hàng bán cho người mua, nếu như hàng bị từ chối có chất lượng thấp hơn chất lượng đã ký trong hợp đồng, giao nhận hàng chậm nên không phục vụ kịp thời cho thời vụ tiêu thụ v.v., hoặc có thể nhờ ngân hàng bán cho người  khác, hoặc chuyển hàng về nước người bán, nếu là hàng quý, hoặc là có thể bán đấu giá công khai. Đây là một phương thức bán hàng đặc biệt, giao hàng cho người mua nào trả giá cao nhất, sau khi đã trực tiếp xem hàng hóa. Chỉ áp dụng bán đấu giá đối với những mặt hàng cồng kềnh, có giá trị thấp, chi phí vận chuyển, lưu kho, lưu bãi cao.  

4.3. PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ (Documentary Credit)  

4.3.1. Khái niệm 

Nội dung thực hiện phương thức thanh toán tín dụng chứng từ được điều chỉnh theo “Điều lệ thực hành và tập quán thống nhất về tín dụng chứng từ” do Phòng Thương mại quốc tế ICC ban hành. Văn bản đầu tiên xuất hiện năm 1933, sau đó được bổ sung và sửa đổi qua các năm 1951, 1962, 1974, 1983, 1994 và 2007. 

Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận, trong đó một ngân hàng - ngân hàng mở thư tín dụng - theo yêu cầu của khách hàng - người yêu cầu mở thư tín dụng - sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác - người hưởng lợi số  tiền của thư tín dụng - hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định đề ra trong thư tín dụng.  

Các bên tham gia trong phương thức tín dụng chứng từ   

  • Người xin mở thư tín dụng (Applicant) là người mua, người nhập khẩu hàng hóa hoặc người mua ủy thác cho một người khác. 

  • Ngân hàng mở thư tín dụng (The issuing bank) hay còn gọi là ngân hàng phát hành, là ngân hàng đại diện cho người nhập khẩu, nó cấp tín dụng cho người nhập khẩu. 

  • Ngân hàng thông báo thư tín dụng (The advising bank) là ngân hàng có nhiệm vụ thông báo thư tín dụng cho nhà xuất khẩu. Đây có thể là ngân hàng chi nhánh hoặc đại lý của ngân hàng pháy hành. Ngân hàng này thường ở nước người xuất khẩu. 

  • Người hưởng lợi (Beneficiary) là người bán, người xuất khẩu hay bất cứ người nào khác mà người hưởng lợi chỉ định.  

Ngoài 4 đối tượng trên, trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ còn có  thể xuất hiện thêm hai ngân hàng, đó là ngân hàng xác nhận nếu là loại thư tín dụng xác nhận và ngân hàng thanh toán nếu ngân hàng mở thư tín dụng không trực tiếp thanh toán mà chỉ định một ngân hàng khác thanh toán tiền cho nhà xuất khẩu.  

4.3.2. Trình tự tiến hành nghiệp vụ phương thức tín dụng chứng từ  

Group 1, Grouped object       

 

  1. Căn cứ vào hợp đồng ngoại thương đã ký kết, nhà nhập khẩu làm thủ tục xin mở L/C gởi đến Ngân hàng yêu cầu mở L/C cho nhà xuất khẩu hưởng. 

Thủ tục gồm: 

  • Đơn xin mở L/C: 

 + Nội dung trong đơn xin mở L/C thông thường dựa trên hợp đồng ngoại thương. Ngoài ra, nhà xuất khẩu có thể đưa thêm một số nội dung khác. Tuy nhiên, nội dung trong đơn nên tồn đọng những điều kiện trên hợp đồng, tránh tình trạng gây mâu thuẫn. 

 + Đơn xin mở L/C sau khi đã được Ngân hàng chấp thuận thì nó trở thành chứng từ pháp lý để giải quyết tranh chấp (nếu có) giữa người xin mở L/C và ngân hàng bên mở L/C. 

  • Bên cạnh đơn xin mở L/C, nhà nhập khẩu có thể phải gởi kèm các giấy tờ: 

 + Hợp đồng ngoại thương. 

 + Giấy phép nhập khẩu lô hàng. 

 + Và các chứng từ khác có liên quan... 

  1. Ngân hàng mở L/C tiến hành: 

  • Kiểm tra tính pháp lý của yêu cầu mở L/C: kiểm tra tính pháp lý và sự đầy đủ của hồ sơ theo yêu cầu. 

  •  Yêu cầu ký quỹ nhằm đảm bảo khả năng thanh toán. Thông thường tỷ lệ ký quỹ được xác định dựa vào: 

 + Uy tín và khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu 

 + Loại L/C: không huỷ ngang, xác nhận, L/C cho phép chuyển nhượng... 

 + Điều kiện trả tiền: trả ngay, trả chậm.. 

 + Loại hàng hoá nhập khẩu.. 

 + Phương thức giao hàng: đường biển, đường hàng không... 

 + Các vấn đề liên quan khác: tỷ lệ ký quỹ cạnh tranh của các ngân hàng khác; tỷ lệ trượt giá đồng tiền... 

  1.  Sau khi kiểm tra yêu cầu mở L/C nếu đồng ý, ngân hàng sẽ phát hành một L/C và gởi đến ngân hàng thông báo. 

Tuỳ theo yêu cầu của người làm đơn xin mở L/C. L/C có thể được chuyển bằng thư, hoặc bằng Telex, hoặc bằng mạng SWIFT, hoặc vừa bằng điện, vừa bằng thư. 

Hiện nay, phần lớn các L/C đều được mở qua mạng SWIFT. 

  1. Khi nhận được L/C do ngân hàng phát hành chuyển đến, ngân hàng thông báo sẽ thông báo cho người xuất khẩu toàn bộ nội dung L/C đó. 

  1.  Nhà xuất khẩu kiểm tra nội dung của L/C: Căn cứ để kiểm tra L/C là hợp đồng ngoại thương. Nội dung của L/C phải rõ ràng, không mơ hồ và không mâu thuẫn với hợp đồng. 

  1.  Nếu thấy nội dung L/C không phù hợp với hợp đồng, hoặc trái với luật lệ, tập quán của cả hai nước, hoặc yêu cầu được đưa ra trong L/C quá cao và khó có khả năng thực hiện, nhà xuất khẩu cần đề nghị nhà nhập khẩu và ngân hàng mở L/C sửa đổi lại. Việc sửa đổi L/C phải có sự chấp thuận của Ngân hàng phát hành. 

  1. Sau khi kiểm tra nội dung của L/C, nếu đồng ý thì nhà xuất khẩu tiến hành giao hàng. 

  1. Nhà xuất khẩu lập bộ chứng từ theo yêu cầu của L/C và xuất trình cho ngân hàng (Hoá đơn, hối phiếu, chấp nhận bảo hiểm, chứng từ vận tải...) 

Bộ chứng từ xuất trình phải thoả mãn các yêu cầu: 

  • Đầy đủ chứng từ cả về chủng loại và số lượng theo yêu cầu của L/C. 

  • Hoàn chỉnh về mặt hình thức bên ngoài. 

  • Nội dung của các chứng từ phải tuân theo đúng các quy định trong L/C. 

  • Nội dung của chứng từ không có sự mâu thuẫn với nhau. 

Việc xuất trình bộ chứng từ phải trong thời hạn hiệu lực của L/C. 

(9a)&(9b)  Ngân hàng tiếp nhận chứng từ tiến hành kiểm tra và thanh toán bộ chứng từ (ngân hàng được chỉ định): Ngân hàng có một khoảng thời gian là 7 ngày làm việc tiếp theo ngày nhận chứng từ để kiểm tra chứng từ. 

  1. Ngân hàng được chỉ định chuyển bộ chứng từ cho ngân hàng phát hành để đòi lại tiền. 

  1. Ngân hàng phát hành kiểm tra lại bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp với L/C thì thanh toán. 

  1. Ngân hàng phát hành thông báo với nhà nhập khẩu là bộ chứng từ đã đến và đã kiểm tra. 

  1. Nhà nhập khẩu trả tiền cho ngân hàng phát hành và nhận bộ chứng từ để nhận hàng từ người vận chuyển. 

  1. Nhận hàng từ người vận chuyển. 

4.3.3. Nội dung của thư tín dụng chứng từ 

Thư tín dụng hay L/C là một văn bản pháp lý quan trọng, là công cụ cốt lõi của phương thức thanh toán tín dụng chứng từ. Nó bao gồm những nội dung chủ yếu sau:  

(1) Số hiệu, địa điểm và ngày mở L/C, loại thư tín dụng. Về số hiệu, tất cả các thư tín dụng đều phải có số hiệu riêng của nó để có thể trao đổi thư từ, điện tín có liên quan đến việc thực hiện thư tín dụng. Có thư tín dụng ghi ngay đầu dòng bên phải câu “Đề nghị ghi tín dụng số... trên các thư từ giao dịch”. Số hiệu của thư tín dụng còn được dùng để ghi vào các chứng từ có liên quan.   

Địa điểm mở L/C là nơi mà ngân hàng mở L/C viết cam kết trả tiền cho người  xuất khẩu. Địa điểm này có ý nghĩa trong việc chọn luật áp dụng khi xảy ra tranh chấp nếu có xung đột pháp luật về L/C đó.  

Ngày mở L/C là ngày bắt đầu phát sinh cam kết của ngân hàng mở L/C với người xuất khẩu, là ngày bắt đầu tính thời hạn hiệu lực của L/C và cuối cùng là căn cứ để  người xuất khẩu kiểm tra xem người nhập khẩu thực hiện việc mở L/C có đúng hạn như đã quy định trong hợp đồng không.  

Ví dụ: Một thư tín dụng mở ngày 1/1/1998, trong nội dung của thư tín dụng có câu “We open our irrevocable credit in favour of yourselves by order of Mutsumi Tranding Co Ltd Tokyo for not exceeding the amount of 35,000USD expiring in Hanoi for negociation on 31st January 1998”, tức là “Chúng tôi mở tín dụng không thể hủy ngang cho quý ngài theo lệnh của Công ty Thương mại hữu hạn Mutsumi Tokyo một  số tiền không quá  35.000USD có giá  trị đến ngày 31/1/1998 tại Hà Nội”. 

Như vậy, thời hạn hiệu lực của thư tín dụng này tính từ ngày mở, tức là từ  ngày 1/1/1997 đến ngày hết hạn là 31/1/1998 là 30 ngày. Có thư tín dụng quy định thời hạn hiệu lực của nó ngay trong những dòng đầu  tiên của nội dung L/C, có thư tín dụng lại nêu ở cuối cùng trong phần ngân hàng cam kết trả tiền.   

Loại thư tín dụng phải được chỉ rõ trong yêu cầu mở thư tín dụng do người nhập khẩu gửi đến ngân hàng mở L/C.   

(2) Tên, địa chỉ của những người có liên quan đến phương thức tín dụng chứng từ. Những người có liên quan đến phương thức tín dụng chứng từ nói chung có hai loại, đó là các thương nhân và các ngân hàng.  

Các thương nhân chỉ bao gồm những người nhập khẩu, tức là người yêu cầu mở L/C; người xuất khẩu là người hưởng lợi L/C.  

Các ngân hàng tham gia trong phương thức tín dụng  chứng từ  gồm có ngân  hàng mở L/C, ngân hàng thông báo, ngân hàng trả tiền, ngân hàng xác nhận v.v..  

Ngân hàng mở L/C là ngân hàng thường được hai bên mua bán thỏa thuận lựa chọn và quy định trong hợp đồng, nếu chưa có sự quy định trước, người nhập khẩu có quyền lựa chọn.  

(3) Số tiền của thư tín dụng. Số tiền của thư tín dụng vừa được ghi bằng số, vừa được ghi bằng chữ và thống nhất với nhau. Không thể chấp nhận một thư tín dụng có số tiền ghi bằng số và bằng chữ mâu thuẫn nhau.  

Tên của đơn vị tiền tệ phải rõ ràng, vì cùng một tên gọi là đôla nhưng trên thế giới có nhiều loại đôla khác nhau. Không nên ghi số tiền dưới dạng một số tuyệt đối. Cách ghi số tiền tốt nhất là ghi một số giới hạn mà người xuất khẩu có thể đạt được dù là giao hàng có tính chất là nguyên cái hay là rời. Ví dụ như ghi “.. một số tiền không quá X USD..” (For a sum or sums not exeeding a total of X USD..)  

Theo bản “Quy tắc & Thực hành thống nhất Tín dụng chứng từ” thì những từ “khoảng chừng”, “độ khoảng” hoặc những từ ngữ tương  tự được dùng để chỉ mức độ số tiền của thư tín dụng được hiểu là cho phép xê dịch hơn kém không được quá 10% của tổng số tiền đó.    

Ngoài ra, bản quy tắc còn quy định “trừ khi thư tín dụng quy định số lượng hàng giao không được hơn kém, còn thì sẽ được phép có một khoản dung sai trong phạm vi hơn kém 5%, miễn là tổng số tiền chi trả luôn luôn không được vượt quá số tiền của thư tín dụng.  

Không được áp dụng dung sai này khi thư tín dụng quy định số lượng bằng đơn vị bao, kiện đã được nói rõ hoặc tính bằng đơn vị chiếc”.  

(4) Thời hạn hiệu lực, thời hạn trả tiền và thời hạn giao hàng ghi trong thư tín dụng. Thời hạn hiệu lực của thư tín dụng là thời hạn mà ngân hàng mở L/C cam  kết trả tiền cho người xuất khẩu, nếu người xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ trong  thời hạn đó và phù hợp với những điều quy định  trong L/C. Thời hạn hiệu lực của L/C bắt đầu tính từ ngày mở L/C đến ngày hết hiệu lực L/C. 

Thời hạn trả tiền của L/C là thời hạn trả tiền ngay hay trả tiền về sau. Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào quy định của hợp đồng. Nếu việc đòi tiền bằng  hối phiếu thì thời hạn trả tiền được quy định ở yêu cầu ký phát hối phiếu. Thời hạn  trả  tiền có thể nằm trong thời hạn hiệu lực của L/C nếu như trả tiền ngay hoặc có thể nằm ngoài thời hạn hiệu lực của L/C nếu như trả tiền có kỳ hạn. Nhưng điều quan  trọng là những hối phiếu có kỳ hạn phải được xuất tình để chấp nhận trong thời hạn hiệu lực của L/C.  

Thời hạn giao hàng được ghi trong L/C và do hợp đồng mua bán quy định. Nó có quan hệ chặt chẽ với thời hạn hiệu lực của L/C.  

(5) Những nội dung về hàng hóa như tên, số lượng, trọng lượng, giá cả, quy cách phẩm chất, bao bì, ký mã hiệu .... cũng được ghi vào thư tín dụng.  

(6) Những nội dung về vận tải, giao nhận hàng hóa như điều kiện cơ sở giao hàng (FOB, CIF, CFR), nơi gửi và nơi giao hàng, cách vận chuyển và cách giao hàng .... cũng được ghi vào thư tín dụng   

(7) Những chứng từ mà người xuất khẩu phải xuất trình là một nội dung then chốt của thư tín dụng bởi vì bộ chứng từ quy định trong thư tín dụng là một bằng chứng của người xuất khẩu chứng minh rằng mình đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng và làm đúng  những điều quy định của thư tín dụng, do vậy ngân hàng mở L/C phải dựa vào đó để tiến hành trả tiền cho người xuất khẩu, nếu bộ chứng từ phù hợp với những điều quy định trong thư tín dụng.  

Ngân hàng mở L/C thường yêu cầu người xuất khẩu thỏa mãn những yêu cầu về các loại chứng từ mà người xuất khẩu phải xuất trình, số lượng các chứng từ này nhiều hay ít phụ thuộc vào yêu cầu của người nhập khẩu, mà các yêu cầu đó thường được thỏa thuận trong hợp đồng và yêu cầu về việc ký phát từng loại chứng từ đó như thế nào.  

(8) Những điều khoản khác. Nếu có những điều khoản đặc biệt nào khác cần ghi rõ trong thư tín dụng.   

(9) Sự cam kết trả tiền của ngân hàng mở L/C Sự cam kết của ngân hàng là nội dung quan trọng của thư tín dụng và nó ràng buộc trách nhiệm của ngân hàng mở L/C.   

Mẫu L/C của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam:  

“We hereby engage with the drawers, endorsers and bona fide holders of draft(s) drawn and preented in accordance with the terms of this Credit that the draft(s) shall be duly honored on presentation”  

Chúng tôi cam kết với những người ký phát, ký hậu và những người chân thực cầm hối phiếu đã được ký phát và được xuất trình phù hợp với những điều kiện của tín dụng này rằng các hối phiếu đó sẽ được trả tiền khi xuất trình.  

Mẫu L/C của Mitsui Bank Ltd như sau:  

“We engage with the drawers, endorsers and bona fide holders of drafts drawn under and in compliance with the terms of this credit that the same shall be duly honored on due presentation and delivery of documents to the drawee”.  

Chúng tôi cam kết với những người ký phát, ký hậu và chân thực cầm hối phiếu đã được ký phát theo và phù hợp với những điều kiện của tín dụng này rằng các hối phiếu đó sẽ được trả tiền khi xuất trình đúng hạn và giao các chứng từ cho người trả tiền.  

Qua hai mẫu cam kết trên của ngân hàng mở L/C chúng ta nhận thấy đây là sự cam kết thực sự, là sự cam kết có điều kiện và là sự cam kết dự phòng (bảo lưu) tức là ngân hàng chỉ cam kết tôn trọng các hối phiếu xuất trình đúng hạn và phù hợp với điều kiện của L/C, còn việc có trả tiền hay không còn phụ thuộc vào việc xem xét bộ chứng từ thanh toán có phù hợp với L/C hay không và không được mâu thuẫn với nhau.  

(10) Chữ ký của ngân hàng mở thư tín dụng: Chữ ký là nội dung cuối cùng của thư tín dụng mà nếu thiếu nó thư tín dụng sẽ hoàn toàn không có giá trị.  

4.3.4. Các loại thư tín dụng thương mại  

Trong thanh toán quốc tế thường thấy các loại thư tín dụng thương mại sau:  

Thư tín dụng không thể hủy bỏ (Irrevocable Letter of Credit): Là loại thư tín dụng sau khi đã mở ra thì ngân hàng mở L/C không được sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ trong thời hạn hiệu lực của nó, trừ khi có sự thỏa thuận khác của các bên tham gia thư  tín dụng. Đây là loại thư tín dụng được áp dụng rộng rãi nhất trong thanh toán quốc tế và là loại L/C cơ bản nhất.  

Thư tín dụng không thể hủy bỏ có xác nhận (Confirmed Irrevocable L/C): Là loại thư tín dụng không thể hủy bỏ được một ngân hàng khác xác nhận đảm bảo trả tiền theo yêu cầu của ngân hàng mở L/C. Do có hai ngân hàng đứng ra cam kết trả tiền cho người xuất khẩu nên đây là loại đảm bảo nhất cho người xuất khẩu.  

Thư tín dụng không thể hủy bỏ, miễn truy đòi (Irrevocable without recourse L/C): Là loại L/C mà sau khi người xuất khẩu đã được trả tiền thì ngân hàng mở L/C không còn quyền đòi lại tiền người xuất khẩu trong bất cứ trường hợp nào. Khi sử dụng loại này, người xuất khẩu phải ghi câu “miễn truy đòi người ký phát” lên hối phiếu và  trong L/C. Loại này cũng được sử dụng rộng rãi trong thanh toán quốc tế.  

Thư tín dụng chuyển nhượng (Transferable L/C): Là thư tín dụng không thể hủy bỏ trong đó quy định quyền của người hưởng lợi thứ nhất có thể yêu cầu ngân hàng mở L/C chuyển nhượng toàn bộ hay một phần số tiền của L/C cho một hay nhiều người khác. L/C chuyển nhượng chỉ được chuyển nhượng một lần. Chi phí chuyển nhượng thường do người hưởng lợi đầu tiên chịu.  

Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving L/C): Là loại L/C không thể hủy bỏ sau khi sử dụng xong hoặc đã hết thời hạn hiệu lực thì nó lại tự động có giá trị như cũ và cứ như vậy nó tuần hoàn cho đến khi nào tổng giá trị hợp đồng được thực hiện. Thư tín dụng tuần hoàn cần ghi rõ ngày hết hiệu lực cuối cùng và số lần tuần hoàn và giá trị tối thiểu của mỗi lần đó. Nếu việc tuần hoàn căn cứ vào thời hạn hiệu lực trong mỗi lần tuần hoàn thì phải ghi rõ có cho phép số được của L/C trước cộng dồn vào những L/C kế tiếp hay không, nếu cho phép thì gọi nó là tuần hoàn tích lũy (Cumulative Revolving L/C).  

Thư tín dụng giáp lưng (Back  to back L/C): Sau khi nhận được L/C do người nhập khẩu mở cho mình hưởng, người xuất khẩu dùng L/C này để thế chấp mở một L/C khác cho người hưởng lợi khác với nội dung gần giống như L/C ban  đầu, L/C mở sau gọi là L/C giáp lưng.  

Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal L/C): Là loại thư tín dụng chỉ bắt đầu có hiệu lực khi thư tín dụng kia đối ứng với nó đã mở ra. Loại này thường được dùng trong phương thức mua bán hàng đổi hàng.  

Thư tín dụng dự phòng (Stand - by L/C): Để đảm bảo quyền lợi cho người nhập khẩu, ngân hàng của người xuất khẩu sẽ phát hành một L/C trong đó cam kết với người nhập khẩu sẽ thanh toán lại cho họ trong trường hợp người xuất khẩu không hoàn thành nghĩa vụ giao hàng theo L/C đã đề ra.  

Thư tín dụng thanh toán dần dần (Deferred payment L/C): Là loại thư tín dụng không thể hủy bỏ, trong đó ngân hàng mở L/C hay ngân hàng xác nhận L/C cam kết với người hưởng lợi sẽ thanh toán dần dần toàn bộ số tiền của L/C trong những thời hạn quy định  rõ trong L/C đó. Đây là một loại L/C trả chậm từng phần.   

4.3.5. Các vấn đề khác liên quan đến L/C 

Sửa đổi L/C: Việc sửa đổi thư tín dụng có thể xuất phát từ phía người xuất khẩu hoặc ngân hàng mở L/C, nhưng nội dung sửa đổi chỉ có giá trị thực hiện nếu thỏa mãn những yêu cầu sau:  

(1) Sửa đổi bổ sung L/C trong thời hạn hiệu lực của L/C  

(2) Các nội dung giao dịch có liên quan đến nội dung sửa đổi hay bổ sung L/C phải được tiến hành bằng văn bản như điện báo, thư từ, điện tín, telex v.v..  

(3) Tất cả các giao dịch có liên quan đến nội dung sửa đổi hay bổ sung L/C có thể tiến hành trực tiếp giữa hai người xuất khẩu và nhập khẩu, nhưng kết quả cuối cùng phải có sự xác nhận của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Ngân hàng mở L/C).  

Kiểm tra thư tín dụng: Kiểm tra thư tín dụng là một khâu quan trọng đối với người xuất khẩu trong việc thực hiện phương thức tín dụng chứng từ, vì nếu không phát hiện được sự không phù hợp giữa L/C và hợp đồng mà người xuất khẩu chấp nhận và tiến hành giao hàng theo hợp đồng thì người xuất khẩu không đòi tiền được, ngược lại, nếu không giao hàng theo yêu cầu của thư tín dụng thì lại vi phạm hợp đồng.  

Chấp nhận L/C là sự thừa nhận cam kết của ngân hàng mở L/C về nghĩa vụ trả  tiền của họ cho người xuất khẩu, đồng thời cũng là chấp nhận nghĩa vụ của người xuất khẩu về việc hoàn thành nghĩa vụ giao hàng và lập bộ chứng từ thanh toán được quy định trong thư tín dụng, do vậy người xuất khẩu phải có thái độ cần mẫn, tỉ mỉ, thận trọng trong khi kiểm tra thư tín dụng của người nước ngoài gửi đến.  

Khi kiểm tra thư tín dụng cần chú ý mấy điểm sau:  

(1) Cơ sở để kiểm tra L/C: Là hợp đồng mua bán đã ký kết giữa hai bên. Thư tín dụng phải phù hợp với hợp đồng và không được mâu thuẫn với những nội dung cơ bản của hợp đồng. Người kiểm tra L/C phải là cán bộ nghiệp vụ kinh doanh xuất khẩu, thấu hiểu hợp đồng mà mình đang chuẩn bị thực hiện. Trong trường hợp kiểm tra L/C của một hợp đồng bổ sung thì không những phải căn cứ vào hợp đồng này mà còn phải dựa vào hợp đồng gốc nữa, vì hợp đồng bổ sung chỉ ký những điều khoản cụ thể mà hợp đồng gốc chưa đề cập đến.  

(2) Phải coi bản Quy tắc & Thực hành thống nhất Tín dụng của chứng từ, bản số 600, là cơ sở pháp lý quốc tế để điều chỉnh thư tín dụng của bên này mở cho bên kia hưởng.  

(3) Các nội dung của L/C phải rõ ràng, không mơ hồ, tối nghĩa và không được mâu thuẫn nhau. Người mở L/C không thể đề ra những yêu cầu quá cao khiến cho người xuất khẩu không thể thực hiện được.  

Khi phát hiện thấy nội dung của thư tín dụng không phù hợp với hợp đồng hoặc  trái với luật lệ và tập quán mà hai nước đang áp dụng hoặc không có khả năng thực hiện, các công ty kinh doanh xuất khẩu đề nghị sửa đổi hoặc bổ sung thư tín dụng đó.  

Những nội dung L/C cần kiểm tra kỹ bao gồm:  

(1) Số tiền của thư tín dụng: Cần kiểm tra loại tiền có đúng quy định trong hợp đồng hay không, loại tiền cần nói rõ tên của đơn vị tiền tệ và nước có loại tiền tệ đó. Chỉ rõ tính chất của đồng tiền đó, có sử dụng dung sai đối với số tiền của L/C hay không?  

(2) Ngày và địa điểm hết hạn hiệu lực của thư tín dụng: cần kiểm tra ngày hết hạn của L/C trong mối quan hệ với ngày giao hàng, ngày hoá đơn. Địa điểm hết hạn hiệu lực của thư tín dụng có ý nghĩa quan trọng. Người bán thường muốn địa điểm này tại nước mình, vì họ có thể hoàn toàn chủ động trong việc xuất trình chứng từ thanh toán. Ngược lại người mua cũng mong muốn địa điểm này ở nước mình vì họ không phải trả tiền sớm hơn.  

(3) Loại thư tín dụng: Thư tín dụng được áp dụng phổ biến nhất là loại không huỷ ngang (irrevocable) vì chúng ta là người bán nên chọn loại này cùng với điều kiện miễn truy đòi và nếu được xác nhận thì càng tốt. Khi sử dụng L/C xác nhận, ta cần quy định rõ chi phí xác nhận do người mua chịu.   

(4) Thời hạn giao hàng: Thời hạn giao hàng là một nội dung quan trọng của thư tín dụng. Cách ghi thời hạn giao hàng có thể như sau: "Ngày giao hàng chậm nhất hay  sớm nhất..." hoặc "trong vòng...”, hoặc "khoảng..." hoặc một ngày cụ thể.  

(5) Cách giao hàng: Có nhiều cách giao hàng khác nhau mà người mua có thể cụ  thể hóa trong thư tín dụng. Ví dụ cho phép giao từng phần, giao từng phần nhưng quy định giới hạn trọng lượng của mỗi chuyến, giới hạn số chuyến hoặc giao từng phần, mỗi lần số lượng như nhau.   

(6) Cách vận tải: Trong thư tín dụng có cho phép chuyển tải hay không.    

Bộ chứng từ thương mại  

Trong bộ chứng từ thanh toán quốc tế có thể có nhiều loại chứng từ khác nhau, nhưng một số chứng từ thường có bao gồm Hối phiếu - Bill of Exchange, Hóa đơn - Invoice, Vận tải đơn - Bill of Loading, Đơn bảo hiểm - Insurance Policy.   

Một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với yêu cầu của L/C thì phải đạt 3 yêu cầu sau:   

(1) Các chứng từ phải phù hợp với luật lệ, tập quán mà hai nước ký kết hợp đồng đang áp dụng  

(2) Nội dung và hình thức của các chứng từ thanh toán phải được lập theo đúng yêu cầu đề ra trong  L/C, không được tự ý làm trái các quy định đó. Nếu làm trái ngân hàng sẽ từ chối thanh toán.  

(3) Những nội dung và các số liệu liên quan giữa các chứng từ không được mâu thuẫn nhau, nếu có mâu thuẫn làm cho người ta không xác định một cách rõ ràng, thống nhất những nội dung thuộc về tên hàng, số lượng, trọng lượng, giá cả, tổng giá trị, tên người hưởng lợi v.v.. thì các chứng từ đó sẽ bị ngân hàng từ chối thanh toán vì họ cho  

Bài học này chưa được mở.

LIÊN HỆ

  • Địa chỉ : 70 Nguyễn Huệ, Tp Huế, TT Huế
  • Điện thoại: 0234 3837 073
  • Mail: cnhue@hueic.edu.vn
     

KHOA

  • Công nghệ Thông tin - Kinh tế số
  • Nhiệt lạnh
  • Cơ khí - Ô tô
  • Điện
  • Khoa học cơ bản

 

SINH VIÊN

  • Hoạt động
  • Cựu sinh viên

GIỚI THIỆU

  • Thông tin HUEIC
  • Tin tức Hueic
  • Đăng ký
  • Sự kiện
  • Liên hệ
Logo

Hệ thống quản trị đào tạo trực tuyến

Trường Cao đẳng Công nghiệp Huế

© 2022 Trường Cao đẳng Công nghiệp Huế. Toàn quyền nội dung
Designed by Coolstyles.org