
Hệ thống quản trị đào tạo trực tuyến
Bài học này nhằm giới thiệu cho người học hiểu được cách tính giá tài sản. Trên cơ sở đó tìm hiểu nhiệm vụ và vai trò tất cả các loại tài sản trong doanh nghiệp. Khi có các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh liên quan đến tính giá tài sản mua vào, xuất bán, hay xuất dùng, kế toán phải xử lý như thế nào ? Biết cách tính giá cụ thể cho từng loại tài sản. Hiểu được các nguyên tắc tính giá và vận dụng trong việc tính giá trong các tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp. Biết được sự thay đổi khi điều chỉnh phương pháp tính giá sẽ làm ảnh hương hưởng như thế nào về mặt giá trị.
Mục tiêu:
- Trình bày được khái niệm về tính giá
- Nắm được nguyên tắc tính giá cụ thể: xác định được các đối tượng để tính giá ; phân loại được các loại chi phí thu mua; chi phí sản xuất; chi phí tiêu thụ
- Hiểu được các phương pháp tính giá: thực tế đích danh, Nhập trước xuất trước, Giá bán lẻ, Đơn giá bình quân. Ưu nhược điểm mỗi phương pháp để vận dụng cho mỗi loại hình Doanh nghiệp.
- Vận dụng để tính giá được Tài sản ngắn hạn
- Tính giá được Tài sản dài hạn.
Nội dung chính:
Trong quá trình hoạt động, tài sản của đơn vị không ngừng vận động, biến đổi cả về hình thái vật chất và lượng giá trị. Để ghi nhận giá trị của tài sản vào chứng từ, sổ sách và báo cáo kế toán cần sử dụng phương pháp tính giá. Tính giá là một phương pháp kế toán để quy đổi hình thức biểu hiện của các đối tượng kế toán từ các thước đo khác nhau về một thước đo chung là sử dụng thước đo tiền tệ để xác định giá trị ghi sổ của các đối tượng cần tính giá theo những nguyên tắc nhất định.
Phương pháp tính giá được thể hiện qua hai hình thức cụ thể là: các thẻ, sổ, bảng hoặc phiếu tính giá và trình tự tính giá. Các thẻ, sổ, bảng hoặc phiếu tính giá được sử dụng để tổng hợp chi phí cấu thành giá của từng loại tài sản cần tính giá. Trình tự tính giá là những bước công việc được sắp xếp theo trình tự nhất định để tiến hành tính giá.
Phương pháp tính giá chính là phương pháp thông tin và kiểm tra về sự hình thành và phát sinh các chi phí nhằm giúp kế toán tính toán giá trị ghi sổ của các loại tài sản của đơn vị. Nói cách khác, tính giá là phương pháp biểu hiện giá trị các đối tượng kế toán bằng tiền phù hợp với các nguyên tắc và các qui định pháp luật của Nhà nước ban hành.
Phương pháp tính giá có ý nghĩa quan trọng trong hạch toán và trong công tác quản lý, cụ thể:
- Phương pháp tính giá giúp kế toán xác định được giá trị thực tế của tài sản hình thành trong đơn vị, giúp phản ánh các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh vào chứng từ, sổ sách và tổng hợp lên báo cáo kế toán.
- Phương pháp tính giá giúp kế toán tính toán được hao phí và kết quả của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ và tổng hợp được giá trị của toàn bộ tài sản trong đơn vị giúp công tác quản lý và sử dụng tài sản của doanh nghiệp có hiệu quả.
Để có thể đáp ứng được hai yêu cầu trên đây, tính giá cần tuân thủ ba nguyên tắc sau đây:
Nguyên tắc thứ nhất là phải xác định đối tượng tính giá phù hợp. Để xác định đối tượng tính giá phù hợp cần phải căn cứ vào đặc điểm của từng loại tài sản, vào đặc điểm của tổ chức sản xuất, vào trình độ và yêu cầu của quản lý. Ví dụ, đối tượng tính giá trong quá trình thu mua hay sản xuất thường có thể là từng loại vật tư, hàng hoá, sản phẩm hoặc từng nhóm, từng lô hàng.
Nguyên tắc thứ hai là phải phân loại chi phí hợp lý. Chi phí là bộ phận cấu thành nên giá của các loại tài sản. Mà chi phí thì có thể có nhiều loại, cho nên cần phải phân loại chi phí một cách hợp lý, khoa học để có thể tính giá một cách chính xác nhất có thể. Chi phí có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau như phân loại theo lĩnh vực chi phí, theo chức năng của chi phí, hay theo quan hệ với khối lượng công việc hoàn thành. Mỗi cách phân loại đáp ứng những nhu cầu về thông tin khác nhau của quản lý.
Trước hết, theo lĩnh vực, chi phí có thể chia làm 4 loại bao gồm: chi phí thu mua, chi phí sản xuất, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.
Chi phí thu mua: bao gồm tất cả các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc thu mua các loại tài sản cũng như tất cả những chi phí cần thiết để đưa tài sản vào trạng thái sẵn sàng sử dụng được như chi phí vận chuyển, bảo quản, bốc dỡ, chi phí cho bộ phận thu mua, hao hụt trong định mức, chi phí lắp đặt, chạy thử, chi phí bến bãi.
Chi phí sản xuất: bao gồm tất cả những chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo ra sản phẩm, thực hiện lao vụ, dịch vụ trong phạm vi phân xưởng hoặc bộ phận sản xuất. Chi phí sản xuất có thể tiếp tục phân chia chi tiết hơn thành chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung.
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm tất cả những chi phí về nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu mà đơn vị bỏ ra để tiến hành sản xuất hay chế tạo sản xuất, hoặc thực hiện các dịch vụ.
Chi phí nhân công trực tiếp là biểu hiện số thù lao mà đơn vị trả cho lao động trực tiếp chế tạo ra sản phẩm hoặc thực hiện cung cấp dịch vụ và các khoản trích theo qui định cho các quí BHXH, BHYT, BHTN và KPCĐ.
Chi phí sản xuất chung bao gồm tất cả những chi phí phát sinh trong phạm vi phân xưởng hoặc bộ phận sản xuất không kể chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp.
Chi phí bán hàng bao gồm tất cả những chi phí phát sinh liên quan đến việc bán sản phẩm, hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ như chi phí nhân viên bán hàng, chi phí vật liệu, bao bì, đóng gói...
Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm tất cả những chi phí phát sinh liên quan đến việc tổ chức, điều hành và quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như chi phí lương cho bộ phận quản lý doanh nghiệp, chi phí tiếp khách, vật liệu sử dụng cho bộ phận văn phòng ...
Nguyên tắc thứ ba là phải lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí phù hợp. Nguyên tắc này đòi hỏi khi phân bổ những chi phí mà không thể tách riêng cho từng đối tượng tính giá cần phải chọn tiêu thức sao cho phù hợp nhất với mức tiêu hao thực tế. Trong số những chi phí cần phân bổ có thể kể đến chi phí vật liệu, chi phí nhân công, chi phí sản xuất chung, chi phí vận chuyển, bốc dỡ ...
Công thức phân bổ chi phí như sau:
|
Mức chi phí phân bổ cho từng đối tượng |
= |
Tổng chi phí cần phân bổ |
x |
Tiêu thức của từng đối tượng |
|
Tổng tiêu thức phân bổ |
Khi lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí cần lưu ý đến mối quan hệ giữa chi phí với đối tượng tính giá. Các tiêu thức thường được sử dụng để phân bổ chi phí bao gồm phân bổ chi phí theo hệ số, theo định mức, theo giờ công làm việc, theo giờ máy làm việc, theo khối lượng sản phẩm hoàn thành .... Ví dụ, khi phân bổ chi phí vận chuyển, bốc dỡ hàng hoá thu mua có thể lựa chọn tiêu thức là khối lượng hàng hoá mua vào. Hoặc khi phân bổ chi phí máy thi công cho các công trình khác nhau có thể sử dụng một trong hai tiêu thức số giờ máy thi công sử dụng thực tế cho từng công trình hoặc theo chi phí nhân công vận hành máy thi công đó theo từng công trình.
4.2. Vận dụng nguyên tắc tính giá một số đối tượng kế toán chủ yếu
4.2.1. Tính giá tài sản ngắn hạn
4.2.1.1.Tính giá hàng tồn kho (vật tư, công cụ, hàng hóa, sản phẩm)
- Bước 1: Xác định giá trị mua vào của hàng tồn kho
Trị giá mua vào bao gồm giá mua thể hiện trên hóa đơn (trừ đi các khoản giảm giá hàng mua, chiết khấu thương mại và giá trị hàng mua trả lại) và chi phí thu mua khác như: chi phí vận chuyển, bốc dỡ, bảo quản cộng với các khoản thuế không thuộc diện được khấu trừ như thuế nhập khẩu hay thuế TTĐB nếu có.
Nếu đơn vị được khấu trừ thuế GTGT đầu vào thì giá mua được tính là giá hóa đơn không bao gồm thuế GTGT đầu vào. Nếu thuế GTGT đầu vào ghi trên hóa đơn mua tài sản không được khấu trừ thì giá mua sẽ là tổng giá thanh toán bao gồm cả thuế GTGT.
Trường hợp tự chế biến và thuê ngoài chế biến giá thực tế bao gồm: Giá thực tế của vật liệu xuất kho chế biến, đem gia công, chi phí vận chuyển, bảo quản, bốc dỡ khi giao và nhận, chi phí chế biến, chi phí phải trả cho đơn vị gia công.
- Bước 2: Tập hợp chi phí thu mua
Chi phí thu mua bao gồm toàn bộ chi phí phát sinh liên quan đến quá trình thu mua hàng tồn kho.
- Bước 3: Tổng hợp và tính giá thực tế hàng tồn kho mua vào như: chi phí vận chuyển, bốc dỡ, lưu kho, lưu bãi, hao hụt trong giới hạn cho phép
Công thức tính giá:
|
Giá trị thực tế nhập hàng tồn kho |
= |
Giá mua (bao gồm cả thuế không được khấu trừ) |
- |
Giảm giá, chiết khấu thương mại |
+ |
Chi phí thu mua hàng tồn kho |
4.2.1.2.Tính giá sản phẩm, dịch vụ hoàn thành: 4 bước
- Bước 1: Tập hợp các chi phí trực tiếp (vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp) để sản xuất ra sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ.
- Bước 2: Tập hợp và phân bổ chi phí SXC cho các đối tượng chịu chi phí như (như: chi phí nhân viên quản lý phân xưởng, khấu hao máy móc sử dụng cho toàn phân xưởng…)
- Bước 3: Xác định giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ.
- Bước 4: Tính tổng giá thành sản phẩm và giá thành sản xuất đơn vị sản phẩm.
|
Tổng giá thành sản xuất sản phẩm |
= |
Giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ |
+ |
Chi phí sản xuất thực tế phát sinh trong kỳ |
- |
Giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ |
4.2.1.3. Tính giá sản phẩm, hàng hóa xuất bán và vật tư xuất dùng:
- Bước 1: Xác định số lượng sản phẩm, hàng hóa dịch vụ tiêu thụ theo từng loại, chi tiết cho từng khách hàng, cùng với số lượng, vật liệu xuất dùng cho SXKD.
- Bước 2: Xác định giá đơn vị của từng loại hàng xuất bán, xuất dùng (với sản phẩm, dịch vụ: Giá thành sản xuất; với hàng hóa: Đơn giá mua; với vật tư xuất dùng: Giá thực tế xuất kho)
- Bước 3: Phân bổ chi phí thu mua cho hàng tiêu thụ
- Bước 4: Nhân số lượng sản phẩm, hàng hóa xuất bán, vật tư xuất dùng với giá đơn vị từng loại tương ứng. Đối với kinh doanh thương mại thì cộng thêm với chi phí thu mua đã phân bổ cho hàng hóa tiêu thụ.
Để xác định giá đơn vị của hàng xuất bán, vật tư xuất dùng có thể sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp giá đơn vị thực tế đích danh: giá trị hàng tồn kho xuất ra thuộc lần nhập kho nào thì lấy đích danh giá nhập kho của lần nhập đó làm giá xuất kho.
Ưu/nhược điểm:
-Ít loại mặt hàng, đơn giản, phù hợp doanh nghiệp nhỏ
-Hàng tồn kho có giá trị lớn
- Mặt hàng ổn định và loại hàng tồn kho nhận diện
- Phương pháp nhập trước – xuất trước: Số hàng nào nhập trước sẽ được xuất trước, xuất hết số nhập trước mới xuất đến số nhập sau theo giá thực tế của từng số hàng xuất. Nếu không đủ về mặt số lượng thì lấy tiếp giá củ lô hàng nhập vào tiếp theo thứ tự từ trước đến sau.
Ưu/nhược điểm:
- Tính được ngay trị giá vốn hàng xuất kho từng lần xuất hàng
-Doanh nghiệp có số lượng chủng loại mặt hàng nhiều, phát sinh nhập xuất nhiều dẫn đến những chi phí cũng như khối lượng công việc sẽ tăng lên rất nhiều.
-Phương pháp giá bán lẻ: Để áp dụng được cần ghi chép cả giá gốc và giá bán lẻ cho số hàng sẵn có để bán (hàng tồn đầu kỳ và hàng mua vào thuần). Giá gốc HTK được xác định bằng cách lấy giá bán của HTK trừ đi lợi nhuận biên theo tỷ lệ phần trăm hợp lý.
Ưu/nhược điểm:
-Mặt hàng rất lớn, mỗi mặt hàng lại có số lượng lớn.
-DN kinh doanh lĩnh vực siêu thị hoặc tương tự, áp dụng kế toán HTK theo pp kiểm kê định kỳ
Ví dụ
Giá trị xuất kho của hàng hóa = Giá bán HTK– Lợi nhuận biên.
+ Giá bán HTK: Giá gốc HTK x tỷ lệ % lợi nhuận định mức.
Tỷ lệ này tùy từng thời điểm, từng mặt hàng được quy định khác nhau, phù hợp với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Lợi nhuận biên: Mỗi mặt hàng có một tỷ lệ % lợi nhuận biên khác nhau.
Siêu thị có trị giá hàng tồn theo giá gốc là 1.000; doanh thu là 1.600 (lợi nhuận biên 60%)
Trị giá hàng nhập trong kỳ theo giá gốc là 5.000; Doanh thu ước tính nếu bán hết số hàng nhập là 6.500 (lợi nhuận biên 30%)
Nếu siêu thị bán hết số hàng tồn đầu và nhập trong kỳ (trị giá hàng sẵn có để bán) thì thu được số tiền là 8.100 (1.600+6.500). Và trị giá gốc của hàng sẵn có để bán là 6.000 (5.000+1.000)
Thực tế siêu thị bán được trong kỳ là 6.750
Như vậy số hàng tồn nếu Siêu thị bán hết thì được doanh thu là 1.350 (8.100-6.750)
Bài toán đặt ra là cần xác định giá gốc của số hàng tồn này, từ đó tính giá trị giá gốc của hàng xuất kho?
+ Xác định tỷ lệ giá bán lẻ trên giá gốc = Trị giá hàng sẵn có để bán theo giá bán lẻ / Trị giá hàng sẵn có để bán tính theo giá gốc = 8.100/6.000= 135%
+ Trị giá tồn kho cuối kỳ theo giá gốc = Trị giá hàng tồn kho theo giá bán lẻ / Tỷ lệ giá bán lẻ trên giá gốc = 1.350 / 135% = 1.000
+ Trị giá hàng xuất kho trong kỳ theo giá gốc = Hàng sẵn có để bán theo giá gốc – Trị giá hàng tồn kho theo giá gốc = 6.000 – 1.000 = 5.000
=> Như vậy ta ghi nhận giá vốn hàng xuất trong kỳ theo phương pháp giá bán lẻ là 5.000 vào cuối kỳ thay vì việc cứ xuất hàng là ghi nhận GV
- Phương pháp giá đơn vị bình quân: vào cuối mỗi kỳ kế toán phải xác định đơn giá bình quân của hàng tồn kho đầu kỳ và nhập trong kỳ để tính giá xuất kho.
|
Đơn giá bquân cả kỳ |
= |
Trị giá hàng tồn kho đầu kỳ +Trị giá hàng tồn kho nhập trong kỳ |
|
Số lượng hàng tồn kho đầu kỳ + Số lượng hàng tồn kho nhập trong kỳ |
Ngoài ra, người ta còn có thể tính đơn giá bình quân sau mỗi lần nhập.
Ưu/ nhược điểm:
-Đơn giản, dễ làm, chỉ cần tính toán một lần vào cuối kỳ.
-Độ chính xác không cao, công việc tính toán dồn vào cuối tháng gây ảnh hưởng các phần hành khác.
-Chưa đáp ứng yêu cầu kịp thời của thông tin kế toán ngay tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ
* Ví dụ minh hoạ về các phương pháp tính giá xuất kho
Tại một đơn vị, tình hình nhập, xuất hàng hoá A trong tháng như sau:
1. Tồn đầu tháng 1.000kg, đơn giá 10.000đ/kg
2. Nhập, xuất trong tháng
- Ngày 5: Nhập 3.000kg, đơn giá 11.000đ/kg
- Ngày 6: Nhập 1.000kg, đơn giá 10.800đ/kg
- Ngày 10: Xuất 3.000kg
- Ngày 12: xuất 500 kg
- Ngày 25: Nhập 3.000kg, đơn giá 10.500đ/kg
- Ngày 26: Xuất 2.000kg
3. Tồn cuối tháng: 2.500kg.
Yêu cầu: Tính giá xuất kho của hàng hoá A trong tháng theo 3 phương pháp là phương pháp đơn giá bình quân cả kỳ, phương pháp nhập trước xuất trước
Lời giải:
Trị giá hàng tồn kho đầu kỳ: 1.000 x 10.000 = 10.000.000 đồng
Trị giá hàng nhập kho trong kỳ:
3.000 x 11.000 + 1.000 x 10.800 + 3.000 x 10.500 = 75.300.000 đ
Khối lượng hàng nhập trong kỳ: 3.000 + 1.000 + 3.000 = 7.000
1. Theo phương pháp đơn giá bình quân cả kỳ:
- Đơn giá bình quân thực tế hàng xuất:
|
10.000.000 + 75.300.000 |
= |
10.662,5 đồng/kg |
|
1.000 + 7.000 |
Trị giá hàng xuất trong tháng: 10.662,5 x 5.500 = 58.643.750 đồng
Trị giá hàng tồn kho cuối kỳ: 10.662,5 x 2.500 = 26.656.250 đồng
2. Theo phương pháp nhập trước xuất trước
Trị giá hàng xuất ngày 10 là:
1.000 x 10.000 + 2.000 x 11.000 = 32.000.000 đồng
Trị giá hàng xuất ngày 12 là:
500 x 11.000 = 5.500.000 đồng
Trị giá hàng xuất ngày 26 là:
1.500 x 11.000 + 500 x 10.800 = 21.900.000 đồng
Trị giá hàng xuất kho trong tháng:
32.000.000 + 5.500.000 + 21.900.000 = 59.400.000 đồng
Trị giá hàng tồn kho cuối kỳ:
10.000.000 + 75.300.000 – 59.400.000 = 25.900.000 đồng
4.2.2. Tính giá tài sản dài hạn
4.2.2.1.Tính giá TSCĐ mua vào
Theo chuẩn mực 03-Tài sản cố định hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất do doanh nghiệp năm giữ để sử dụng cho hoạt động SXKD phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hữu hình.
Theo chuẩn mực 04- Tài sản cố định vô hình, TSCĐ vô hình là tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị và do doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng trong SXKD, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ vô hình.
Nguyên giá TSCĐ được xác định bằng toàn bộ các khoản chi phí mà DN bỏ ra tính đến thời điểm đưa tài sản đó vào trạng thái sẵn sàng sử dụng.
|
NG TSCĐ xây dựng |
= |
Giá thành thực tế (hoặc giá trị quyết toán công trình) |
+ |
Chi phí trước khi sử dụng (nếu có) |
|
NG TSCĐ được cấp |
= |
Giá trị ghi sổ của đơn vị cấp |
+ |
Chi phí trước khi sử dụng được cấp |
|
NG TSCĐ nhận góp vốn liên doanh |
= |
Giá do Hội đồng định giá quyết định |
+ |
Chi phí trước khi sử dụng (nếu có) |
|
NG TSCĐ trao đổi |
= |
Giá trị hợp lý của TSCĐ nhận về |
+/- |
Khoản tiền trả thêm/nhận them |
|
NG TSCĐ vô hình |
= |
Chi phí chi ra để mua các TSCĐ vô hình |
|
|
* Ví dụ minh hoạ
Đơn vị kế toán XYZ mua một phần mềm kế toán HIS A(không thuộc diện chịu thuế GTGT), các khoản chi phí bỏ ra gồm có: Giá mua 500 triệu đồng, chi phí cài đặt 60 triệu đồng, chi phí chạy thử phần mềm 10 triệu. Như vậy nguyên giá của phần mềm kế toán nói trên là 570 triệu đồng.
Ngoài việc tính giá TSCĐ theo nguyên giá, các đơn vị còn phải tính giá trị còn lại của TSCĐ nhằm xác định giá trị thực của TSCĐ (số vốn đầu tư còn chưa phân bổ hết vào chi phí SXKD)
|
Giá trị còn lại của TSCĐ |
= |
NG của TSCĐ |
- |
Khấu hao lũy kế của TSCĐ |
Khấu hao lũy kế là phần giá trị của TSCĐ đang sử dụng đã được phân bổ vào chi phí hoạt động của đơn vị. Đối với đơn vị sản xuất, khấu hao TSCĐ là phần giá trị của TSCĐ đã được phân bổ vào giá trị của sản phẩm mới (thành phẩm).
4.2.2.2.Tính giá TSCĐ thuê tài chính
Theo chuẩn mực 06-Thuê tài sản, Thuê tài sản là sự là sự thõa thuận giữa bên cho thuê và bên thuê về việc cho thuê chuyển quyền sử dụng tài sản cho bên thuê trong thời gian nhất định để được nhận tiền cho thuê một lần hoặc nhiều lần. Thuê tài sản được phân biệt thành hai loại thuê hoạt động và thuê tài chính.
Thuê tài chính được hiểu là nghiệp vụ thuê tài sản mà bên cho thuê có sự chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản cho bên thuê. Quyền sở hữu tài sản có thể chuyển giao vào cuối thời hạn thuê. Những nghiệp vụ thuê tài sản không thỏa mãn là thuê tài chính sẽ được gọi là thuê hoạt động.
Đối với tài sản thuê hoạt động, số tiền thuê được ghi nhận vào chi phí sản xuất trong kỳ.
Đối với hoạt động thuê tài chính, kế toán bên đi thuê TSCĐ ghi nhận ghi giá TSCĐ theo công thức:
|
NG TSCĐ thuê tài chính |
= |
Giá trị hợp lý của TS thuê tại thời điểm khởi đầu thuê tài chính |
+ |
Chi phí trực tiếp liên quan đến HĐ tài chính |
Số tiền mà bên thuê TSCĐ phải trả cho bên cho thuê bao gồm một phần vốn gốc và một phần là lãi thuê tài sản, trong đo lãi thuê tài sản được ghi nhận là chi phí tài chính mà không kế toán vào chi phí SXKD