Skip to main content
Skip Navigation

Navigation

  • Home

    • hueic-lms

      • My courses

      • Tags

      • ForumSite announcements

    • My courses

    • Courses

      • (hidden)

        • (hidden)

          • do-hoa-ung-dung

          • co-so-du-lieu

          • lap-trinh-co-ban-cd

          • mo-phong-he-thong-mang

          • quan-tri-mail-va-proxy-server

          • tieng-anh-du-lich

          • thiet-ke-va-dieu-hanh-tour

          • du-lich-sinh-thai

          • du-lich-am-thuc

          • he-thong-cac-tuyen-diem-thang-canh-danh-lam-va-du-...

          • du-lich-le-hoi-va-su-kien

          • kinh-te-du-lich

          • pham-chat-dao-duc-nghe-huong-dan-du-lich

          • lich-su-viet-nam

          • thanh-toan-quoc-te

            • General

            • Bài 1: Tỷ giá hối đoái

            • Bài 2: Thị trường ngoại hối

            • Bài 3: Các phương tiện thanh toán quốc tế

              • PageGiới thiệu

              • LessonNội dung

              • AssignmentLuyện tập vận dụng

              • QuizKiểm tra đánh giá

            • Bài 4: Các phương thức thanh toán quốc tế

          • ke-toan-thuong-mai

          • ke-toan-tai-chinh-2

          • quan-tri-marketing

        • Ngắn hạn

        • dien-tu-co-ban

        • mh05-tin-hoc-cd

      • Các Khoá học

        • Hệ Cao đẳng

          • Khoa Công nghệ hóa Môi trường

          • Khoa Công nghệ thông tin - Truyền thông

            • Chuyên ngành

              • Công nghệ thông tin - Ứng dụng phần mềm

              • Mạng máy tinh - Truyền thông

              • Thương mại điện tử

              • Tin học ứng dụng

            • Cơ sở ngành

          • Khoa Cơ Khí

          • Khoa Điện - Điện tử

          • Khoa Động lực - Ô tô

          • Khoa Khoa học cơ bản

          • Khoa Kinh Tế

          • Khoa Nhiệt lạnh

            • Ngành Công Nghệ Kỹ thuật Xây dựng

          • Khoa Kỹ thuật Đô thị

          • Môn chung

        • Phòng Đào tạo

        • Thư viện số

      • Trung tâm sát hạch

      • Trung học phổ thông

        • Khối 12

        • Khối 11

        • Khối 10

  • Close
    Toggle search input
  • English ‎(en)‎
    • English ‎(en)‎
    • Vietnamese ‎(vi)‎
Logo

Hệ thống quản trị đào tạo trực tuyến

Trường Cao đẳng Công nghiệp Huế

  • Educate
  • Courses
    • All courses
    • Course search
  • Digital Library
    • Khoa CNTT và Kinh tế số
    • Khoa cơ khí – ô tô
    • Khoa đIện – đIện tử
    • Khoa Nhiệt lạnh
    • Khoa Khoa học cơ bản
  • Full screen
  • Standard view
Educate Courses Collapse Expand
All courses Course search
Digital Library Collapse Expand
Khoa CNTT và Kinh tế số Khoa cơ khí – ô tô Khoa đIện – đIện tử Khoa Nhiệt lạnh Khoa Khoa học cơ bản
  1. Courses
  2. (hidden)
  3. (hidden)
  4. thanh-toan-quoc-te
  5. Bài 3: Các phương tiện thanh toán quốc tế
  6. Nội dung

Nội dung

Completion requirements

3.1. HỐI PHIẾU (Bill of Exchange hoặc Draft)  

3.1.1. Khái niệm về hối phiếu   

Ở chương này, khái niệm Hối phiếu được hiểu là Hối phiếu đòi nợ.   

Hối phiếu là một lệnh mệnh trả tiền vô điều kiện của người ký phát hối phiếu cho người khác, yêu cầu người này khi nhìn thấy phiếu, hoặc đến một ngày cụ thể nhất định hoặc một ngày có thể xác định trong tương lai phải trả một số tiền nhất định cho một người nào đó hoặc theo lệnh của người này trả cho một người khác hoặc trả cho người cầm phiếu.  

Qua định nghĩa này, chúng ta thấy hối phiếu có 3 đặc điểm quan trọng sau:  

  • Thứ nhất, tính trừu tượng của hối phiếu thể hiện rằng trên hối phiếu không cần phải ghi nội dung quan hệ tín dụng, tức là nguyên nhân sinh ra việc lập hối phiếu mà chỉ cần ghi số tiền phải trả và những nội dung có liên quan đến việc trả tiền.  

  • Thứ hai, tính bắt buộc trả tiền của hối phiếu thể hiện người trả tiền hối phiếu phải trả theo đúng nội dung ghi trên hối phiếu. Hối phiếu là một mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện 

  • Thứ ba, tính lưu thông của hối phiếu thể hiện hối phiếu có thể được chuyển nhượng một hay nhiều lần trong thời hạn của nó,  

3.1.2. Việc thành lập hối phiếu và lưu thông hối phiếu   

Vì hối phiếu phải lưu hành nên nó phải có một hình thức nhất định để người ta có thể dễ dàng phân biệt hối phiếu với các phương tiện thanh toán khác. Hối phiếu thương mại là một văn bản xác nhận một trái vụ trả tiền có tính chất thương mại, cho nên hối phiếu phải có một nội dung nhất định phù hợp với luật lệ chi phối nó.  

  1. Về mặt hình thức:  

  • Hối phiếu phải làm thành văn bản. Hối phiếu nói, điện tín, điện thoại v.v đều không có giá trị pháp lý. Hình mẫu của hối phiếu ở Việt Nam do NHNN thống nhất phát hành. Đối với các nước khác, hình mẫu của hối phiếu thương mại do tư nhân tự định ra và tự phát hành. Hình mẫu của hối phiếu không quyết định giá trị pháp lý của hối phiếu.  

  • Ngôn ngữ tạo lập hối phiếu là ngôn ngữ viết hoặc in sẵn, đánh máy sẵn, đánh máy bằng một thứ tiếng nhất định và thống nhất. Tiếng Anh là tiếng thông dụng của ngôn ngữ tạo lập hối phiếu. Một hối phiếu sẽ không có giá trị pháp lý, nếu nó được tạo lập bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau.  

  • Những hối phiếu viết bằng bút chì, bằng thứ mực dễ phai như mực đỏ đều trở thành vô giá trị.  

  • Hối phiếu có thể lập thành một hay nhiều bản, mỗi bản đều đánh số thứ tự, các bản đều có giá trị như nhau. Khi thanh toán, ngân hàng thường gửi hối phiếu cho người trả tiền làm hai lần kế tiếp nhau đề phòng thất lạc, bản nào đến trước thì sẽ được  thanh toán trước, bản nào đến sau sẽ trở thành vô giá trị. Vì vậy trên hối phiếu thường ghi câu “Sau khi nhìn thấy bản thứ nhất của hối phiếu này (bản thứ hai có cùng nội dung và ngày tháng không trả tiền ..”ở bản số một của hối phiếu. Bản số hai lại ghi “Sau khi nhìn thấy bản thứ hai của hối phiếu này (bản thứ nhất có cùng nội dung  và ngày tháng không trả tiền)..”.  Hối phiếu không có bản phụ.  

  1. Về mặt nội dung, theo Luật Thống nhất về Hối phiếu ban hành theo Công ước Geneve 1930 (Uniform Law for Bill of Exchange - ULB), một hối phiếu phải bao gồm 9 nội dung bắt buộc sau đây:  

1. Tiêu đề của hối phiếu: Chữ Hối phiếu (Bill of Exchange) là tiêu đề của một hối phiếu, thiếu tiêu đề này, hối phiếu sẽ trở thành vô giá trị. Ngôn ngữ của tiêu đề phải cùng ngôn ngữ của toàn bộ nội dung hối phiếu.   

2. Số hiệu của hối phiếu: để dễ dàng gọi tên và tham chiếu khi cần thiết, mỗi hối phiếu đều được gán một số hiệu nhất định. Số hiệu do người ký phát hối phiếu đặt, được ghi sau chữ No. và đặt trên cùng bên trái của văn bản hối phiếu. 

3.  Địa điểm và ngày ký phát hối phiếu: thông thường địa chỉ của người lập hối phiếu là địa điểm ký phát phiếu. Hối phiếu được ký phát ở đâu thì lấy địa điểm ký phát ở đó. Một hối phiếu không ghi rõ địa điểm ký phát, người ta cho phép lấy địa chỉ bên cạnh tên của người ký phát làm địa điểm ký phát hối phiếu. Nếu trên hối phiếu thiếu cả địa chỉ của người phát hành thì hối phiếu đó vô giá trị. Ngày tháng ký phát hối phiếu có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định kỳ hạn trả tiền của hối phiếu có kỳ hạn nếu hối phiếu ghi rằng: “Sau X ngày kể từ ngày ký phát hối phiếu này”. Ngày ký phát hối phiếu còn liên quan đến khả năng thanh toán của hối phiếu. Ví dụ, nếu ngày ký phát hối phiếu xảy ra sau ngày người có nghĩa vụ trả tiền hối phiếu mất khả năng thanh toán như bị phá sản, bị đưa ra tòa, bị chết.... thì khả năng thanh toán hối phiếu đó không còn nữa.  

4.  Mệnh lệnh đòi tiền vô điều kiện một số tiền cụ thể: hối phiếu là một mệnh lệnh đòi tiền, không phải là một yêu cầu đòi tiền. Việc trả tiền là vô điều kiện, 

5.  Mệnh giá của hối phiếu: Số tiền của hối phiếu là một số tiền nhất định, tức là một số tiền được ghi một cách đơn giản và rõ ràng, người ta có thể nhìn qua để biết được số tiền phải trả là bao nhiêu, không cần qua các nghiệp vụ tính toán nào dù là đơn giản. Số tiền được ghi có thể vừa bằng số vừa bằng chữ hoặc ho àn toàn bằng số hay hoàn toàn bằng chữ. Số tiền của hối phiếu phải nhất trí với nhau trong cách ghi. Trường hợp có sự chênh lệch giữa số tiền bằng số và số tiền bằng chữ thì người ta thường căn cứ vào số tiền ghi bằng chữ. Trường hợp có sự chênh lệch giữa số tiền toàn ghi bằng số hay toàn ghi bằng chữ thì người ta căn cứ vào số tiền nhỏ hơn.  

6.  Thời hạn trả tiền của hối phiếu gồm có 2 loại: thời hạn trả tiền ngay và thời hạn trả tiền sau. Cách ghi thời hạn trả tiền ngay thường là: “Ngay sau khi nhìn thấy bản thứ ..  của hối phiếu này ..” hoặc  “Sau khi nhìn thấy bản thứ .. của hối phiếu này ..”. Cách ghi thời hạn trả tiền sau thường có 3 cách:  

  • Nếu mốc thời gian tính từ ngày chấp nhận hối phiếu thì ghi: “X ngày sau khi nhìn thấy bản thứ .. của hối phiếu này ..” 

  • Nếu thời hạn trả tiền tính từ ngày ký phát hối phiếu thì ghi: “X ngày kể từ ngày ký bản...của hối phiếu này ..” 

  • Nếu thời hạn là một ngày cụ thể nhất định thì ghi: “Đến ngày  .. của bản thứ  ..  của hối phiếu này ..”.  

Trong 3 cách trên, cách thứ nhất thường được sử dụng hơn cả.   

7. Địa điểm trả tiền của hối phiếu: là địa điểm được ghi rõ trên hối phiếu. Nếu hối phiếu không ghi rõ hoặc không ghi địa điểm trả tiền, người ta có thể lấy địa chỉ ghi bên cạnh tên của người trả tiền là địa điểm trả tiền.  

8.  Người hưởng lợi: quy định ở mặt trước của tờ hối phiếu, trước tiên là người ký phát hối phiếu, hoặc có thể là người khác do người ký phát hối phiếu chỉ định.  

9. Người trả tiền hối phiếu được ghi rõ ở mặt trước, góc trái cuối cùng của tờ hối phiếu, sau chữ “gửi..”  

10.  Người ký phát phiếu được ghi ở mặt trước, góc phải cuối cùng của tờ phiếu. Cần đặc biệt chú ý là tất cả những người có liên quan được ghi trên tờ hối phiếu phải ghi rõ đầy đủ tên, địa chỉ mà họ dùng để đăng ký hoạt động kinh doanh. Người ký phát hối phiếu phải ký tên trên mặt trước, góc phải cuối cùng của tờ hối phiếu đó. Người ký phát hối phiếu phải đăng ký mẫu chữ ký với một cơ quan chuyên trách, không được phép ủy quyền cho người khác ký thay mình trên hối phiếu. Chữ ký phải được ký bằng tay và không được đóng dấu đè lên chữ ký.   

 

 

 

MẪU HỐI PHIẾU 

(Dùng trong phương thức nhờ thu) 

HỐI PHIẾU 

Hối phiếu số 594/80  

Số tiền: 9,000USD                                                               Tokyo, ngày 30/06/2008  

Sau khi nhìn thấy bản thứ nhất của hối phiếu này (bản thứ hai có cùng nội dung và ngày tháng không trả tiền)  trả theo  lệnh của Ngân hàng hữu hạn TOKYO một số tiền là chín ngàn đô la Mỹ chẵn.  

Gửi: Tổng công ty xuất                                               Công ty thương mại hữu hạn   

nhập khẩu máy Hà Nội                                                        Daiichi - Tokyo  

                                                                                                   (Ký)  

 

 

MẪU HỐI PHIẾU 

(Dùng trong phương thức tín dụng chứng từ) 

HỐI PHIẾU 

Số: AG 594/80  

Số tiền: 9.000USD                                                    Sydney, ngày 30/06/2008  

Sau khi nhìn thấy bản thứ nhất của hối phiếu này (bản thứ hai có cùng nội dung và ngày tháng không trả tiền) trả theo lệnh của Ngân hàng NSW, một số tiền là chín ngàn đô la Mỹ chẵn.  

Số tiền này được nhận theo hóa đơn VG 594/80 lập ngày 25 tháng 06 năm 2008 

Ký phát cho Ngân hàng HKB, chi nhánh Đà Nẵng. 

Theo thư tín dụng không hủy ngang và miễn truy đòi số 45/EX/05 phát hành ngày 15 tháng 05 năm 2008. 

Gửi: Ngân hàng HKB      Công ty Nano Electronics - Sydney 

   Chi nhánh Đà Nẵng   ( Chữ ký)  

 

 

 

 

Bill of Exchange 

No. 169/52 

For USD 35.500 Danang, January 15, 2005 

At sight of this FIRST Bill of Exchange (Second of the same tenor and date being unpaid) pay to the order of HKB Bank - Danang Branch the sum of: UNITED STATES DOLLARS THIRTY FIVE THOUSAND FIVE HUNDRED ONLY. 

Drawn under irrevocable L/C No. AC0148 dated December 10,2005 of NSW Bank - Sydney, Australia. 

To: NSW Bank Lam Dang Co.,Ltd 

   Sydney, Australia        Tran Tong str., Danang 

                  (Authorized Signature) 

3.1.3. Quyền lợi và nghĩa vụ của những người có liên quan đến hối phiếu  

Theo Luật Kỳ phiếu và Hối phiếu quốc tế năm 1982, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên liên quan đến hối phiếu được quy định trong chương IV.  

Người ký phát hối phiếu: người ký phát hối phiếu trong ngoại thương là người xuất khẩu, người cung ứng các dịch vụ có liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hóa.  

Người ký phát hối phiếu có trách nhiệm ký phát hối phiếu cho đúng luật, ký tên vào góc bên phải, phía dưới ở mặt thị trước tờ hối phiếu. Khi hối phiếu đã được chuyển nhượng bị từ chối trả tiền thì người ký phát hối phiếu có trách nhiệm phải hoàn trả tiền lại cho những người hưởng lợi của tờ hối phiếu đó.  

Quyền của người ký phát hối phiếu được thể hiện trên hai mặt chủ yếu bao gồm quyền hưởng lợi số tiền ghi trên hối phiếu và quyền chuyển nhượng hưởng lợi đó cho người khác.  

Người trả tiền hối phiếu: Người trả tiền hối phiếu trong ngoại thương là người nhập khẩu, là người sử dụng các cung ứng dịch vụ có liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hóa. Khi dùng hối phiếu là phương tiện đòi tiền của phương thức tín dụng chứng từ, người trả tiền hối phiếu lại là ngân hàng mở L/C hay ngân hàng xác nhận. Trách nhiệm trả tiền của ngân hàng đối với hối phiếu chỉ giới hạn trong thời hạn hiệu lực của L/C.  

Trách nhiệm của người trả tiền hối phiếu là phải trả tiền hối phiếu theo đúng những điều quy định trong hối phiếu. Nếu là hối phiếu có kỳ hạn, người trả tiền phải ký chấp nhận trả tiền hối phiếu khi nhìn thấy hối phiếu. Việc chấp nhận này là vô điều kiện.    

Quyền lợi của người trả tiền hối phiếu là có quyền từ chối trả tiền hối phiếu khi chưa ký chấp nhận.  

Người hưởng lợi hối phiếu: Người hưởng lợi hối phiếu là người có quyền được nhận số tiền của hối phiếu. Người này có thể là bản thân người ký phát hối phiếu, cũng có thể là một người khác do người ký phát hối phiếu chỉ định, hoặc do người hưởng lợi chuyển nhượng quyền hưởng lợi hối phiếu của mình cho người đó bằng thủ tục ký hậu.  

Người chuyển nhượng hối phiếu: Là người đem quyền hưởng lợi hối phiếu của mình chuyển cho người khác bằng thủ tục ký hậu. Người chuyển nhượng đầu tiên của hối phiếu là người ký phát hối phiếu. Người cầm phiếu là người có quyền nhận tiền hối phiếu khi hối phiếu được trả tiền. Người cầm phiếu là người ký phát hối phiếu, nếu anh ta không chuyển nhượng hối phiếu.  

3.1.4. Các nghiệp vụ liên quan đến hối phiếu   

Dưới đây giới thiệu 5 nghiệp vụ cơ bản liên quan đến hối phiếu bao gồm chấp nhận hối phiếu, ký hậu hối phiếu, bảo lãnh hối phiếu, từ chối - kháng nghị hối phiếu và chiết khấu hối phiếu.   

3.1.4.1. Chấp nhận hối phiếu: (Acceptance)  

Hối phiếu sau khi được ký phát phải được xuất trình cho người trả tiền để người này ký chấp nhận trả tiền, nhất là đối với hối phiếu có kỳ hạn. Một hối phiếu đã được ký chấp nhận mới có sự tin cậy trong thanh toán. Thời hạn chấp nhận có thể được giải thích theo hai trường hợp sau đây:  

Thứ nhất, nếu hai bên không có quy định gì khác thì theo luật quy định thời hạn chấp nhận là 12 tháng kể từ ngày ký phát hối phiếu.  

Thứ hai, nếu hai bên quy định rõ với nhau trong hợp đồng mua bán hoặc trong thư tín dụng thời hạn cụ thể phải xuất trình hối phiếu để chấp nhận, thì hối phiếu phải được xuất trình để chấp nhận trong thời hạn đó. Ví dụ, thời hạn hiệu lực của thư tín dụng là 45 ngày, hay là hết hạn 20 ngày kể từ sau ngày giao hàng thì thời hạn chấp nhận hối phiếu chỉ trong vòng 20 ngày đó, nếu quá, tức là L/C đã hết hiệu lực, ngân  hàng mở L/C sẽ từ chối thanh toán tờ hối phiếu gửi đến, nếu là trả tiền ngay, hoặc từ chối chấp nhận hối phiếu, nếu là trả tiền sau.  

Sự chấp nhận hối phiếu được ghi vào mặt trước, góc dưới bên trái của tờ hối phiếu và được ghi bằng chữ “chấp nhận” viết kế bên chữ ký của người trả tiền. Ngoài công thức chấp nhận trên, ULB còn cho phép người trả tiền dùng những chữ khác tương tự thể hiện sự chấp nhận của mình như “xác nhận”, “đồng ý”, “đồng ý trả tiền”.  

Những sự chấp nhận của người trả tiền được thực hiện trên tờ hối phiếu bằng những chữ mơ hồ, tối nghĩa khiến cho hối phiếu mất tính chất luật định của nó sẽ trở thành vô giá trị.  

Cũng có thể người trả tiền ký chấp nhận vào mặt sau của tờ hối phiếu.Trong trường hợp này để phân biệt với ký hậu chuyển nhượng, người trả tiền bắt buộc phải tôn trọng đúng theo công thức ký chấp nhận nêu trên.  

Trong thanh toán quốc tế, người ta loại trừ sự chấp nhận bằng một văn thư riêng hoặc chấp nhận gộp nhiều hối phiếu bằng một văn thư chung. Điều này luật coi là vô hiệu.  

Ngày tháng ký chấp nhận không phải là một yêu cầu bắt buộc. Nhưng trên  thực tế sử dụng hối phiếu, người ta thấy có loại hối phiếu đòi hỏi ký chấp nhận có ghi ngày tháng, có loại không cần ghi ngày tháng.  

Đối với hối phiếu có kỳ hạn được xác định trong tương lai “X ngày kể  từ ngày nhìn thấy bản thứ .. của hối phiếu này  ...” thì ngày tháng ký chấp nhận là ngày nhìn thấy hối phiếu. Đó là mốc thời gian để tính ra kỳ hạn của hối phiếu.  

Theo luật hối phiếu, có 3 cách ký chấp nhận hối phiếu sau:  

Theo cách chấp nhận ngắn, người chấp nhận chỉ cần ghi tên đơn vị mình và ký tên.  

Ví dụ: Công ty Bia Huế  

(Ký tên)  

Theo cách chấp nhận đầy đủ, người chấp nhận ghi số tiền đã ghi trên hối phiếu địa điểm thanh toán và ngày ký chấp nhận.  

Ví dụ: Chấp nhận 100.000 USD  

Ngày ... tháng ... năm ...  

(Ký tên)  

Theo cách chấp nhận một phần, người chấp nhận ghi số tiền mình chấp nhận và ký tên.  

Ví dụ: Chấp nhận 95.000 USD  

Ngày ... tháng ... năm ...  

(Ký tên)  

3.1.4.2. Ký hậu hối phiếu: (Endosement)   

Ký hậu hối phiếu là hình thức để chuyển nhượng hối phiếu. Người hưởng lợi muốn chuyển nhượng hối phiếu cho người khác thì phải ký vào mặt sau của tờ hối phiếu rồi chuyển hối phiếu cho người đó.  

Hành vi ký hậu có hai ý nghĩa pháp lý: 

(1) Nó thừa nhận sự chuyển quyền lợi hối phiếu cho người khác theo quy định trong mặt sau của hối phiếu. Sự ký hậu này mang tính trừu tượng, có nghĩa là người ký hậu không cần nêu lý do của sự chuyển nhượng và cũng không cần phải  thông báo cho người trả tiền biết về sự chuyển nhượng đó mà người được chuyển nhượng nghiễm nhiên trở thành người hưởng lợi của hối phiếu đó; 

(2) Việc ký hậu hối phiếu xác định trách nhiệm của người ký hậu về việc trả tiền hối phiếu với những người cầm phiếu sau đó. Trong luật hối phiếu thì người ký hậu đảm bảo rằng người trả tiền hối phiếu có mắc nợ số tiền ghi trên hối phiếu mà còn đảm bảo rằng mình sẽ trả tiền hối phiếu đó cho những người được chuyển nhượng, nếu như người trả tiền từ chối thanh toán hối phiếu đó, bởi vì người ký hậu là người đóng vai trò chủ động trong việc ký phát hối phiếu, ký tên vào hối phiếu, nhưng hối phiếu có được chấp nhận hay không lại là vấn đề khác.  

Ký hậu được ghi ở mặt sau của hối phiếu dưới 4 hình thức sau đây:  

Ký hậu trắng (Blank endosementsmile là việc ký hậu không chỉ định người được hưởng quyền lợi hối phiếu do thủ tục ký hậu mang lại. Người ký hậu chỉ ký tên ở mặt sau của hối phiếu. 

Với cách ký hậu này, người nào cầm hối phiếu sẽ trở thành người được hưởng quyền lợi hối phiếu và việc chuyển nhượng kế tiếp của người cầm phiếu này không cần phải ký hậu nữa, chỉ cần trao tay là đủ.  

Ký hậu theo lệnh (To order endosement) là việc ký hậu chỉ định một cách suy đoán ra người hưởng lợi hối phiếu do thủ tục ký hậu mang lại. Người ký hậu chỉ cần ghi câu “trả theo lệnh ông X” hoặc “pay to the order of Mr X” và ký tên. Như vậy, người hưởng lợi hối phiếu này chưa được quy định rõ ràng, cần phải suy đoán ý của ông X. Nếu ông X ra lệnh trả cho một người khác thì người đó sẽ trở thành người hưởng  lợi hối phiếu, nếu ông X im lặng thì người hưởng lợi hối phiếu đương nhiên là ông X.  

Với cách ký hậu này, hối phiếu sẽ được chuyển nhượng kế tiếp nhau đến khi nào người hưởng lợi cuối cùng không ký hậu chuyển nhượng nữa nhưng phải trước khi hối phiếu đến hạn trả tiền. Vì vậy, ký hậu theo lệnh là loại ký hậu rất thông dụng trong thanh toán quốc tế.  

Ký hậu hạn chế (Restritive endosement) là việc ký hậu chỉ định rõ ràng người được hưởng lợi hối phiếu và chỉ người đó mà thôi. Người ký hậu ghi câu “chi trả cho ông X” và ký tên. Đối với loại ký hậu này, chỉ có ông X mới nhận được tiền của hối phiếu, do đó ông X không thể chuyển nhượng tiếp hối phiếu này cho người khác bằng thủ tục ký hậu nữa.   

Ký hậu miễn truy đòi (Without recourse endosement) là việc ký hậu mà người ký hậu ghi thêm câu “Miễn truy đòi người ký hậu” cùng với một trong ba loại ký hậu nêu trên.  

Ví dụ” “trả theo lệnh ông X, miễn truy đòi” và ký tên. Đối với loại ký hậu này, trong trường hợp này, một khi hối phiếu bị từ chối trả tiền thì ông X không được truy đòi lại tiền của người ký hậu trực tiếp của mình. Nếu hối phiếu có nhiều người ký hậu theo lệnh đều ghi chữ “miễn truy đòi” vào chỗ ký hậu của mình, còn có một hay nhiều người không ghi chữ “miễn truy đòi” thì đương nhiên những người này không được hưởng quyền miễn truy đòi nên nếu như hối phiếu bị từ chối thanh toán thì họ phải đứng ra thanh toán cho người hưởng lợi kế tiếp. Ký hậu miễn truy đòi cũng là một loại ký hậu được sử dụng nhiều trong thanh toán quốc tế.  

3.1.4.3. Bảo lãnh hối phiếu (Aval):  

Bảo lãnh hối phiếu là sự cam kết của người thứ ba trả tiền cho người hưởng lợi khi hối phiếu đến kỳ trả tiền. Hình thức văn tự thông thường của sự bảo lãnh được ghi bằng chữ “bảo lãnh” và người bảo lãnh ký tên. Theo luật ULB không quy định nơi ký bảo lãnh ở mặt trước hay mặt sau của tờ hối phiếu. Để tránh nhầm lẫn với chữ ký chấp nhận hoặc chữ ký hậu của người chuyển nhượng, hình thức bảo lãnh phải được ghi như nói ở trên.  

Ngoài hình thức bảo lãnh theo ULB quy định, một số nước dùng hình thức bảo  lãnh bằng một văn thư riêng biệt thường gọi là bảo lãnh mật. Sở dĩ có hình thức này là do người trả tiền không muốn người thứ ba biết đến tình hình tài chính của mình đến mức phải bảo lãnh, nếu sự bảo lãnh được ghi ngay trên hối phiếu. Hình thức thư tín dụng cũng là một hình thức “bảo lãnh riêng biệt” đối với hối phiếu nằm trong bộ chứng từ thanh toán của phương thức tín dụng chứng từ. Hình thức bảo lãnh được ghi trên hối phiếu ở câu "theo L/C số.. mở ngày …" "gửi ngân hàng mở L/C..". Người xuất khẩu sau khi giao hàng lập một hối phiếu theo đúng yêu cầu của L/C cách và lập bộ chứng từ thanh toán đầy đủ và phù hợp với L/C xuất trình trong thời hạn hiệu lực của L/C thì chắc chắn rằng hối phiếu đó sẽ được ngân hàng mở L/C trả tiền.  

3.1.4.4. Thanh toán hối phiếu: 

Một hối phiếu khi đến hạn phải được xuất trình để thanh toán. 

  1. Ngày đến hạn thanh toán: 

  • Hối phiếu trả ngay: ngày đến hạn thanh toán là ngày xuất trình hối phiếu. Nếu không có thỏa thuận khác, hối phiếu trả ngay phải được xuất trình trong vòng 1 năm để được thanh toán. 

  • Hối phiếu trả chậm: ngày đến hạn là ngày cuối cùng của thời hạn trả chậm ghi trên hối phiếu. 

  1. Ngày thanh toán hối phiếu: Có thể là ngày đến hạn hoặc một trong hai ngày làm việc tiếp theo. (Nếu ngày đến hạn là ngày lễ, thứ 7 hoặc chủ nhật.) 

Trước khi thanh toán hối phiếu, người trả tiền hối phiếu phải kiểm tra những yếu tố sau đây: 

  • Hình mẫu của hối phiếu có hoàn chỉnh theo quy định của Luật hối phiếu hay không. 

  • Sự hợp thức của dây chuyền ký hậu. 

  • Chữ ký chấp nhận có đúng không (nếu có ký chấp nhận) 

3.1.4.5. Từ chối trả tiền hối phiếu - kháng nghị (Protest): 

Khi đến hạn trả tiền của hối phiếu mà người trả tiền từ chối thì người hưởng lợi phải chứng thực sự từ chối đó bằng một văn bản kháng nghị. Bản kháng nghị do người hưởng lợi lập ra trong thời hạn 2 ngày làm việc liên tiếp sau ngày hết hạn của hối phiếu. Sau khi lập bản kháng nghị, trong vòng 4 ngày làm việc, người bị từ chối trả tiền phải báo cho người chuyển nhượng trực tiếp để đòi tiền hoặc có thể đ òi tiền bất cứ người nào đã ký hậu chuyển nhượng hối phiếu hoặc đòi người ký phát hối phiếu. Nếu không có bản kháng nghị về việc từ chối trả tiền thì người được chuyển nhượng được miễn trách nhiệm trả tiền hối phiếu, nhưng người ký phát và người chấp nhận phải chịu trách nhiệm này đối với người kháng nghị.  

3.1.5. Các loại hối phiếu  

3.1.5.1. Căn cứ vào thời hạn trả tiền của hối phiếu, người ta chia hối phiếu làm 3 loại:  

Hối phiếu trả tiền ngay: Người trả tiền khi nhìn thấy hối phiếu này do người cầm phiếu xuất trình thì phải trả tiền ngay cho họ.  

Hối phiếu trả tiền ngay sau một số ngày nhất định, thường là trả tiền sau 5-7 ngày: Người trả tiền khi nhìn thấy hối phiếu này do người cầm phiếu xuất trình thì tiến hành ký chấp nhận trả tiền, sau đó từ 5 - 7 ngày thì trả tiền tờ hối phiếu đó.  

Hối phiếu có kỳ hạn: Sau một thời gian nhất định ghi trên hối phiếu, người trả tiền phải trả hoặc tính từ ngày ký phát hối phiếu hoặc tính từ ngày chấp nhận hối phiếu hoặc từ một ngày quy định cụ thể.  

3.1.5.2. Căn cứ vào hối phiếu có kèm theo chứng từ hay không, có thể chia hối phiếu làm 2 loại:   

Hối phiếu trơn: Loại này được gửi đến đòi tiền người trả tiền không kèm theo chứng từ thương mại. Trong thanh toán quốc tế, hối phiếu này dùng để thu tiền cước phí vận chuyển, bảo hiểm, hoa hồng v.v.. hoặc dùng để đòi tiền mua hàng của những thương nhân nhập khẩu tin cậy.  

Hối phiếu kèm chứng từ: Loại hối phiếu này được gửi đến cho người nhập khẩu có kèm chứng từ thương mại. Hối phiếu kèm chứng từ có hai loại: Loại hối phiếu kèm chứng từ trả tiền ngay và loại hối phiếu kèm chứng từ có chấp nhận.  

3.1.5.3. Căn cứ vào tính chất chuyển nhượng của hối phiếu có thể chia hối phiếu làm 2 loại:  

Hối phiếu đích danh: Là loại hối phiếu ghi rõ hộ tên người hưởng lợi hối phiếu không kèm theo điều khoản theo lệnh. Ví dụ: Hối phiếu ghi như sau “Sau khi nhìn thấy hối phiếu này, trả cho ông X một số tiền là  ..”. Hối phiếu đích danh không chuyển nhượng được bằng thủ tục ký hậu theo luật định.  

Hối phiếu theo lệnh: Là loại hối phiếu ghi trả theo lệnh của người hưởng lợi hối phiếu. Ví dụ ghi như sau:“Sau khi nhìn  thấy hối phiếu này, trả theo lệnh của ông X một số tiền là ..”. Hối phiếu theo lệnh chuyển nhượng được theo hình thức ký hậu theo luật định. Nó được sử dụng rộng rãi trong thanh toán quốc tế.  

3.1.5.4. Căn cứ vào người ký phát hối phiếu, người ta chia hối phiếu làm 2 loại:  

Hối phiếu thương mại: là hối phiếu do người xuất khẩu ký phát đòi tiền người nhập khẩu trong nghiệp vụ về thanh toán hàng hóa xuất khẩu hoặc cung cấp lao vụ lẫn nhau.  

Hối phiếu ngân hàng: là hối phiếu do ngân hàng phát hành ra lệnh cho ngân hàng đại lý của mình thanh toán một số tiền nhất định cho người hưởng lợi chỉ định trên hối phiếu.   

3.2. KỲ PHIẾU (Promissory Note)  

3.2.1. Khái niệm 

Kỳ phiếu là một tờ giấy hứa cam kết trả tiền vô điều kiện do người lập phiếu phát ra hứa trả một số tiền nhất định cho người hưởng lợi hoặc theo lệnh của người này trả cho người khác quy định trong kỳ phiếu đó.    

Ngược lại với hối phiếu, kỳ phiếu do con nợ viết ra để hứa cam kết trả tiền cho người hưởng lợi. Với tính thụ động trong thanh toán như vậy, trong thanh toán quốc tế, kỳ phiếu ít thông dụng hơn hối phiếu.  

Các điều mà luật dùng để điều chỉnh hối phiếu cũng được áp dụng tương tự cho kỳ phiếu thương mại. Tuy nhiên, có một số đặc thù sau:  

Thứ nhất, kỳ hạn kỳ phiếu được quy định rõ trên nó. Trên kỳ phiếu phải ghi rõ ngày tháng năm sẽ trả tiền cho chủ nợ.  

Thứ hai, một kỳ phiếu có thể do một hay nhiều người ký phát để cam kết thanh toán cho một hay nhiều người hưởng lợi.  

Thứ ba, kỳ phiếu cần có sự bảo lãnh của ngân hàng hoặc Công ty tài chính. Sự bảo lãnh này đảm bảo khả năng thanh toán của kỳ phiếu. Bởi vì về bản chất kỳ phiếu là do con nợ cam kết trả nợ, do vậy để đảm bảo cho lời cam kết này, bắt buộc phải có sự bảo lãnh.  

Thứ tư, hối phiếu thường gồm 2 bản, bản số 1 và số 2, kỳ phiếu chỉ có một bản do chính con nợ phát ra để chuyển cho người hưởng lợi kỳ phiếu đó.  

3.2.2. Các văn bản pháp lý về Hối phiếu và Kỳ phiếu 

Trên phạm vi quốc tế, đã có những văn bản pháp lý quan trọng có ảnh hưởng đến việc sử dụng kỳ phiếu.  

Ở Anh đã ban hành Luật Hối phiếu của Anh năm 1882 - Bill of Exchange Act of 1882.  

Ở Mỹ có Luật thương mại thống nhất của Mỹ được ban hành năm 1962  (Uniform Commercial Codes of 1962 UCC)    

Đặc biệt là công ước Geneve được các nước ký kết năm 1930. Đó là Luật thống  nhất về hối phiếu (Uniform Law for Bill of Exchange - ULB).  

3.3. SÉC (Check)  

3.3.1. Khái niệm   

Séc là một tờ mệnh lệnh vô điều kiện của người chủ tài khoản ra lệnh cho ngân hàng trích từ tài khoản của mình để trả cho người có tên trong séc, hoặc trả theo lệnh của người ấy hoặc trả cho người cầm séc một số tiền nhất định bằng tiền mặt hay chuyển khoản.  

Người có tiền mở tại ngân hàng một tài khoản, ngân hàng sẽ cấp cho người gửi  tiền một quyển séc. Mỗi lần muốn rút tiền ra thì lập một tờ séc đưa đến ngân hàng để lĩnh tiền.  

Séc là một phương tiện thanh toán được sử dụng rộng rãi trong các nước có hệ thống ngân hàng phát triển cao. Hiện nay séc là phương tiện chi trả được dùng hầu như phổ biến trong thanh toán nội địa của tất cả các nước. Séc cũng được sử dụng rộng rãi trong thanh toán quốc tế về hàng hóa, cung cấp lao vụ, du lịch và về các chi trả phi mậu dịch khác.  

3.3.2. Nội dung tờ Séc 

Séc có giá trị thanh toán trực tiếp như tiền tệ, do vậy nó phải có những quy định về nội dung và hình thức theo luật định. Theo công ước Genève năm 1931 được nhiều nước áp dụng, một tờ séc cần ghi đủ những điều sau đây:  

  • Tiêu đề của séc: Một lệnh trả tiền muốn được coi là séc thì phải có tiêu đề SÉC ghi trên tờ lệnh đó. Vì séc là lệnh nên khi ngân hàng nhận được séc sẽ phải chấp nhận vô điều kiện lệnh này, trừ trường hợp tài khoản phát hành séc không còn tiền hoặc tờ séc  không đầy đủ tính chất pháp lý.  

  • Địa điểm và ngày tháng năm phát hành séc: Đây là một yếu tố quan trọng để xác định thời hạn thanh toán của tờ séc cũng như là căn cứ để giải quyết các tranh chấp nếu có xảy ra giữa các bên liên quan đến séc.  

  • Số tiền ghi trên séc phải rõ ràng, phải vừa ghi bằng số vừa ghi bằng chữ khớp nhau, có ký hiệu tiền tệ.   

  • Tên địa chỉ của người yêu cầu trích tài khoản, tài khoản được trích trả, ngân hàng trả tiền, tên địa chỉ của người hưởng số tiền trên séc, chữ ký của người phát hành séc. Nếu là tổ chức thì phải có chữ ký của chủ tài khoản, kế toán trưởng và dấu của tổ chức đó (nếu có).  

Các yếu tố trên đây phải được ghi rõ ràng, chính xác tuyệt đối, không tẩy xóa và phải được ghi cùng một  loại chữ, một thứ mực, không được ghi bằng mực đỏ. Điều cơ bản trong phát hành séc là người phát hành séc phải có tiền trên tài khoản mở tại ngân hàng, số tiền trên tờ séc không vượt quá số dư có trên tài khoản ở ngân  hàng. Séc có thể phát hành để trả tiền cho một tổ chức, một cá nhân hoặc nhiều người, séc cũng có thể do một ngân hàng này phát hành trả tiền cho một ngân hàng khác.  

Séc thường được in sẵn theo mẫu có những dòng để trống để người phát hành séc điền vào. Ngày nay, rất nhiều ngân hàng trên thế giới dùng máy in nhiều màu số tiền, ký hiệu tiền, số tiền bằng số, bằng chữ lên chỗ trống của tờ séc.  

3.3.3. Thời hạn hiệu lực của Séc 

Đặc điểm của séc là có tính thời hạn, tức là tờ séc chỉ có giá trị tiền tệ hoặc thanh toán nếu thời hạn hiệu lực của nó chưa hết đối với séc thương mại. Thời hạn hiệu lực của tờ séc được ghi rõ trên tờ séc và tùy thuộc vào phạm vi không gian mà séc lưu hành và luật pháp các nước quy định. Nói chung séc lưu hành trong nội địa thời gian ngắn hơn lưu hành trong thanh toán quốc tế.  

Séc trả tiền ngay, thời hạn hiệu lực là 8 ngày làm việc kể từ ngày phát hành séc, nếu là séc lưu hành trong nước, thời hạn hiệu lực là 20 ngày làm việc nếu lưu  thông ngoài nước trong cùng một châu, là 70 ngày nếu séc được trả ở một nước không cùng châu.  

Quá thời hạn trên nếu séc không quay trở lại ngân hàng thì séc sẽ mất hiệu lực. Đối với séc du lịch thì không quy định thời hạn hiệu lực. Ở Việt Nam, thời hạn thanh toán séc là 15 ngày kể từ ngày ký phát séc.  

3.3.4. Những người liên quan đến séc 

- Người phát hành (Drawer): là người có tài khoản ở các tổ chức tín dụng, thực hiện việc phát hành séc. 

- Người thụ lệnh (Drawee): Ngân hàng hay các định chế tài chính khác, là người thực hiện trả tiền tờ Séc. 

- Người hưởng thụ (Beneficiary): là người nhận được tiền theo sự chỉ định của người phát lệnh được ghi trên tờ séc. 

Sau khi séc được phát hành, người có quyền hưởng lợi tờ séc gọi là người cầm séc. Séc có thể chuyển nhượng cho nhiều người liên tiếp bằng phương pháp ký hậu trong thời hạn hiệu lực của séc.  

Ký hậu có 2 ý nghĩa. Thứ nhất, ký hậu chứng nhận việc chuyển giao quyền hưởng séc cho một người khác. Thứ hai, ký hậu xác nhận trách nhiệm của người chuyển nhượng đối với tất cả những người cầm giữ tờ séc sau đó về việc trả tiền đối với tờ séc. Tuy nhiên người chuyển nhượng séc có thể thoái thác trách nhiệm này bằng cách ghi thêm một điều kiện về bảo lưu cùng với chữ ký hậu “không được truy đòi”. Việc ký hậu séc chỉ được thực hiện đối với loại séc theo lệnh.  

3.3.5. Sơ đồ lưu thông Séc 

Lưu thông Séc qua một ngân hàng, thường được sử dụng trong thanh toán nội địa. 

Group 112, Grouped object 

 

 

 

 

(1) Người bán giao hàng cho người mua   

(2) Người mua phát hành séc thanh toán cho người bán  

(3) Người bán chuyển séc đến ngân hàng thanh toán  

(4) Ngân hàng Báo Có cho người hưởng lợi séc   

(5) Quyết toán séc giữa ngân hàng với người mua.  

Lưu thông séc qua hai ngân hàng: Thường sử dụng trong thanh toán quốc tế 

Group 89, Grouped object 

 

 

 

(1) Người bán giao hàng cho người mua  

   (2) Người mua phát hành séc thanh toán cho người bán  

   (3) Người bán nhờ ngân hàng thu hộ tiền ghi trên séc   

   (4) Ngân  hàng thu tiền hộ số tiền trên séc  

(5) Ngân hàng trả tiền cho người hưởng séc  

(6) Quyết toán séc giữa ngân hàng với người mua. 

3.3.6. Phân loại séc  

Có thể phân loại séc theo nhiều tiêu chí khác nhau. Thông thường séc được phân  loại dựa trên tính chất chuyển nhượng của nó, căn cứ vào cách thanh toán séc và căn cứ vào người phát hành séc.  

a. Căn cứ vào tính chất chuyển nhượng séc được chia làm 4 loại sau đây:  

Séc đích danh: là loại séc ghi rõ họ tên người hưởng lợi. Loại séc này không thể chuyển nhượng bằng thủ tục ký hậu, chỉ có người hưởng lợi được ghi trên séc mới được lĩnh  tiền ở ngân hàng.  

Séc vô danh: là loại séc không ghi tên người hưởng lợi, chỉ ghi câu “trả cho người cầm séc”. Bất cứ ai cầm séc này cũng có thể lĩnh tiền ở ngân hàng, vì vậy không cần qua thủ tục ký hậu séc vẫn có thể chuyển nhượng bằng hình thức trao tay. Nếu để mất séc coi như mất tiền. Loại này dùng để nhận tiền mặt.  

Séc ký danh: là loại séc ghi trả theo lệnh của người hưởng lợi ghi trên tờ séc đó. Trên tờ séc ghi“yêu cầu trả theo lệnh của ông X”. Loại này có thể chuyển nhượng được bằng thủ tục ký hậu như cách ký hậu của hối phiếu.  

Séc theo lệnh nhưng không được chuyển nhượng bằng cách ký hậu là loại séc có ghi tên người hưởng lợi nhưng ghi thêm điều kiện là không theo lệnh của người hưởng lợi này đối với loại séc này, việc chuyển giao cho người khác phải thông qua xác nhận chuyển nhượng bằng một văn bản kèm theo.  

b. Căn cứ vào cách thanh toán séc có thể chia làm 2 loại:  

Séc chuyển khoản: là loại séc mà người ký phát séc ra lệnh cho ngân hàng trích tiền từ tài khoản của mình để chuyển trả sang một tài khoản khác của một người khác trong hoặc khác ngân hàng. Séc chuyển khoản không thể chuyển nhượng được và không thể lĩnh tiền mặt được.  

Séc tiền mặt: là loại séc mà ngân hàng thanh toán sẽ trả tiền mặt và người phát hành séc phải chịu rủi ro khi bị mất séc hoặc bị đánh cắp. Người cầm séc không cần sự ủy quyền cũng lĩnh được tiền.  

c. Căn cứ vào người phát hành séc được chia làm hai loại:  

Séc cá nhân: được sử dụng để nhận tiền tại ngân hàng của nhà nhập khẩu. Thuận lợi cơ bản đối với người nhập khẩu là họ được hưởng lợi cho đến khi séc xuất trình tại ngân hàng của nhà nhập khẩu. Tuy nhiên, trong trường hợp này nhà nhập khẩu cũng phải chịu rủi ro khi tỷ giá ngoại tệ tăng. Tuy nhiên séc loại này không được an toàn khi sử dụng trong thanh toán quốc tế.  

Séc bảo chi của ngân hàng hay séc xác nhận: Loại séc này bảo đảm an toàn hơn trong thanh toán quốc tế và sử dụng thuận lợi hơn.  

Ngoài ba cách phân loại séc nêu trên, còn có các lại séc đặc biệt như séc du lịch, séc gạch chéo, séc tài khoản của người hưởng lợi.  

Séc du lịch là loại séc do ngân hàng phát hành và được trả tiền tại bất cứ một  chi nhánh hay đại lý của ngân hàng đó.  

Séc gạch chéo là loại séc trên mặt trước của nó có hai gạch chéo song song với nhau. Séc gạch chéo không thể dùng để rút tiền mặt, thường được dùng để chuyển khoản qua ngân hàng. Séc loại này do người hưởng lợi séc gạch chéo bằng hai cách:  

(1) Séc gạch chéo thường (gạch chéo không tên) tức là giữa hai gạch song song không ghi tên ngân hàng lĩnh hộ tiền.  

(2) Séc gạch chéo đặc biệt, gạch chéo có ghi tên tức là giữa hai gạch song song có ghi tên một ngân hàng nào đó. Trong cách ghi này chỉ có ngân hàng đó mới có quyền lĩnh hộ tiền mà thôi.  

3.4. THẺ THANH TOÁN 

Thẻ thanh toán ra đời vào năm 1949 do ông Frank Mc Namara, một doanh nhân người Mỹ sáng chế. Có một lần sau khi dùng bữa tối tại một nhà hàng ở NewYork, ông bỗng phát hiện minh không đem theo tiền mặt. Ông phải gọi điện thoại cho vợ mình đem tiền đến để thanh toán. Chính tình trạng khó xử lần đó đã khiến ông mày mò chế tạo một phương tiện chi trả không dùng tiền mặt trong những trường hợp tương tự như trên. Thế là lần đầu tiên, Mc Namara cho ra đời loại thẻ mang tên “Diners Club” 

3.4.1. Khái niệm  

Thẻ thanh toán (hay thẻ chi trả, thẻ giao dịch) là một phương tiện thanh toán mà người sở hữu thể có thể dùng để thanh toán rút tiền tự động thông qua máy đọc thẻ được lắp đặt ở các cơ sở chấp nhận thanh toán thẻ hay ở các máy rút tiền tự động lắp đặt nơi công cộng.  

Hầu hết các loại thẻ quốc tế hiện nay đều bằng nhựa cứng có hình chữ nhật chung một kích cỡ 96mm x 54mm x 0,76mm, có góc tròn gồm 2 mặt.  

Mặt trước của thẻ bao gồm:  

(1) Các huy hiệu của tổ chức phát hành thẻ, tên thẻ : VISA, JCB, DINERS CLUB ...  

(2) Biểu tượng của thẻ: Biểu tượng này do ngân hàng phát hành thiết kế và in lên bề mặt của thẻ và nó rất khó giả mạo, do vậy nó được coi là yếu tố an ninh.  

(3) Số thẻ: đây là số dành riêng cho mỗi chủ thẻ, số được dập nổi lên trên thẻ, nó sẽ  được in lên hóa đơn khi chủ thẻ đi mua hàng. Tùy theo từng loại thẻ mà có chữ số và cấu trúc khác nhau.  

(4) Ngày hiệu lực của thẻ: là thời hạn mà thẻ được lưu hành.  

(5) Họ và tên của chủ thẻ: in bằng chữ nổi tên cá nhân nếu là thẻ cá nhân hoặc tên công ty nếu là thẻ công ty.  

(6) Số sêri đợt phát hành: số này không bắt buộc. 

(7) Trên mặt trước có thể có thêm một số đặc điểm riêng của từng loại thẻ. Ví dụ thẻ VISA thì luôn có chữ V in sau ngày hiệu lực.  

Mặt sau của thẻ bao gồm:  

(1) Dãy băng từ có khả năng lưu trữ thông tin về số thẻ, ngày hiệu lực, tên chủ  thẻ, tên ngân hàng phát hành, mã số bí mật cá nhân (PIN: Personal Identification Number)  

(2) Băng chữ ký: Trên băng giấy này là chữ ký của chủ thẻ.    

(3) Số của thẻ: có thẻ còn in lại một lần nữa.  

3.4.2. Phân loại thẻ thanh toán  

Thẻ thanh toán có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau. Dưới đây trình bày ba chách phân loại thẻ chủ yếu.   

a. Căn cứ vào công nghệ sản xuất có 3 loại thẻ thanh toán sau:  

Thẻ khắc chữ nổi: trên bề mặt thẻ được khắc chữ nổi. Hiện nay người ta không còn dùng nữa vì dễ làm giả.  

Thẻ băng từ: được sản xuất dựa trên kỹ thuật thư tín với 2 băng từ chứa thông  tin ở mặt sau của thẻ.  

Thẻ thông minh: đây là thế hệ thẻ mới nhất dựa trên kỹ thuật xử lý tin học nhờ gắn vào thẻ một "chip" điện tử có cấu trúc như một máy tính hoàn hảo, do đó ghi được nhiều  thông tin hơn và an toàn hơn.  

b. Căn cứ vào chủ thể phát hành thẻ được chia làm 2 loại:  

Thẻ do ngân hàng phát hành: thẻ này do ngân hàng phát hành giúp cho khách hàng sử dụng linh động tài khoản của mình tại ngân hàng hoặc sử dụng một số tiền do ngân hàng cấp tín dụng. Nó hiện đang được sử dụng rộng rãi nhất và nó có thể lưu hành trên toàn cầu.  

Thẻ do các tổ chức phi ngân hàng phát hành: đó là  thẻ du lịch, giải trí của các tập đoàn kinh doanh lớn phát hành như Diners club, Amex ...  

c. Căn cứ vào tính chất thanh toán thẻ được chia làm 3 loại:  

Thẻ tín dụng (credit card): được sử dụng phổ biến nhất. Chủ thẻ được phép sử dụng một hạn mức tín dụng không phải trả lãi để mua sắm tại những cơ sở kinh doanh chấp nhận loại thẻ này.  

Thẻ ghi nợ (debit card): đây là loại thẻ có quan hệ trực tiếp và gắn liền với tài khoản tiền gửi. Loại thẻ này khi dùng để mua hàng sẽ được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ thông qua những thiết bị điện tử đặt tại các có sở kinh doanh. Thẻ ghi nợ còn dùng để rút tiền ở máy tự động. Nó không có mức hạn mức tín dụng vì phụ thuộc vào số dư hiện hữu trên tài khoản của chủ thẻ.  

Thẻ rút tiền mặt (cash card): được dùng để rút tiền mặt tại các máy tự động  hoặc ở  ngân hàng.   

d. Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ, thẻ chia làm 2 loại:  

Thẻ trong nước: là thẻ được giới hạn sử dụng trong phạm vi một quốc gia, do vậy đồng tiền giao dịch phải là dồng bản tệ của nước đó.  

Thẻ quốc tế: là loại thẻ được chấp nhận trên toàn cầu, sử dụng các ngoại tệ mạnh để thanh toán. Nó được khách du lịch rất ưu chuộng vì sự an toàn, tiện lợi. Tuy nhiên do phạm vi sử dụng rộng nên quy trình hoạt động của thẻ này phức tạp hơn.   

Trên thực tế các ngân hàng thường áp dụng song song cả hai loại thẻ trong nước và thẻ quốc tế.  


This lesson is not ready to be taken.

LIÊN HỆ

  • Địa chỉ : 70 Nguyễn Huệ, Tp Huế, TT Huế
  • Điện thoại: 0234 3837 073
  • Mail: cnhue@hueic.edu.vn
     

KHOA

  • Công nghệ Thông tin - Kinh tế số
  • Nhiệt lạnh
  • Cơ khí - Ô tô
  • Điện
  • Khoa học cơ bản

 

SINH VIÊN

  • Hoạt động
  • Cựu sinh viên

GIỚI THIỆU

  • Thông tin HUEIC
  • Tin tức Hueic
  • Đăng ký
  • Sự kiện
  • Liên hệ
Logo

Hệ thống quản trị đào tạo trực tuyến

Trường Cao đẳng Công nghiệp Huế

© 2022 Trường Cao đẳng Công nghiệp Huế. Toàn quyền nội dung
Designed by Coolstyles.org