
Hệ thống quản trị đào tạo trực tuyến
7.1. Kế hoạch lao động tiền lương
7.1.1. Nhiệm vụ
- Thu hút nhân viên: Mức lương DN đề nghị là yếu tố cơ bản nhất đề các ứng viên quyết định có nên chấp nhận hay không. Các DN trả lương cao thường có khả năng thu hút được nhiều ứng viên giỏi trên thị trường lao động.
- Hệ thống tiền lương công bằng và hợp lý: Sẽ tạo ra không khí cởi mở giữa những người lao động, hình thành khối đoàn kết thống nhất vì sự nghiệp phát triển của DN và vì lợi ích bản thân người lao động. Ngược lại, hệ thống tiền lương thiếu công bằng và hợp lý sẽ dẫn đến mâu thuẫn nội bộ giữa những người lao động làm việc như nhau.
- Thúc đẩy sản xuất phảt triển trên cơ sở ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ: Để đạt được mục tiêu này hệ thống tiền lương trong DN phải được xây dựng cơ sở kích thích nhân viên thông qua các hình thức như tăng lương, nâng bậc, đề bạt đối với những nhân viên có đóng góp trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật, đồng thời phải đảm bảo một khoảng cách thích hợp về mức lương giữa các loại kỹ thuật có trình độ khác nhau đủ để người lao động không ngừng nâng cao trình độ trong quá trình lam việc.
- Hệ thống tiền lương phải đảm bảo đáp ứng yêu cầu của pháp luật: Những vấn đề cơ bản của luật pháp liên quan đến trả công lao động trong DN thường chú trọng đến những vấn đề:
+ Quy định về mức lương tối thiểu.
+ Quy định về thời gian làm việc và điều kiện lao động
+ Quy định về lao động trẻ em
+ Quy định về các khoản phụ cấp
+ Quy định các khoản phúc lợi xã hội: bảo hiểm xã hội, hưu trí...
- Hệ thống tiền lương: Phải đảm bảo tính cạnh tranh có ý nghĩa, hệ thống tiền lương cần đảm bảo tương đương với thị trường tiền lương trong khu vực. Điều đó sẽ giúp DN thu hút được các nhân viên giỏi từ các DN khác.
7.1.2. Nội dung của kế hoạch lao động tiền lương
Khi xây dựng hệ thống tiền lương trong DN phải dựa trên việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mức lương, đồng thời phải căn cứ vào mức độ phức tạp của các công việc để xác định đúng đắn mối quan hệ giữa lao động phức tạp và lao động giản đơn.
- Căn cứ vào mức độ phức tạp của công việc:
Mức độ phức tạp của công việc phản ánh khách quan sự khác nhau giữa lao động giản đơn và lao động phức tạp. Để đánh giá mức độ phức tạp của công việc, cần phải nghiên cứu nội dung nhằm xác định điều kiện tiến hành các nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn khi thực hiện công việc và các phẩm chất, kỹ năng nhân viên phải thực hiện tốt công việc.
- Xác định ngạch lương, bậc lương:
Ngạch lương là việc xác định nhóm công việc tương tự nhau nhằm đơn giản hóa thủ tục ấn định lương. Trong mỗi ngạch lương người ta chia thành nhiều bậc lương tùy theo mức độ của công việc khác nhau. Các nhân viên làm việc chung một loại công việc sẽ có nhiều loại bậc lương khác nhau. Để tiến hành xây dựng ngạch lương, bậc lương chúng ta phải đánh giá công việc. Đánh giá công việc là thủ tục có tính hệ thống nhằm đo lường giá trị và hợp lý cho các loại công việc khác nhau.
- Các yếu tố ảnh hưởng đến mức lương trong DN:
Căn cứ để xây dựng mức lương:
+ Để xây dựng mức lương, các DN phải dựa vào mức lương tối thiểu là mức lương thấp nhất áp dụng cho loại công việc đơn giản. Mức lương này thường do nhà nước quy định.
+ Căn cứ vào mức độ phức tạp của mỗi ngành nghề khác nhau thì mức lương cũng khác nhau. Mức độ phức tạp của mỗi ngành nghề tùy thuộc vào thời gian đào tạo, điều kiện thực công việc.
+ Căn cứ vào khả năng và điều kiện kinh tế cho việc trả lương của mỗi DN.
Mức lương trên là mức lương cơ bản, ngaòi ra trong hệ thống tiền lương còn có các chế độ phụ cấp khác như:
+ Phụ cấp độc hại nguy hiểm: áp dụng đối với những công việc làm trong điều kiện độc hại, nguy hiểm.
+ Phụ cấp khu vực: áp dụng đối những nơi hẻo lanh xa xôi có nhiều khó khăn, có khí hậu xấu...
+ Phụ cấp trách nhiệm: áp dụng đối với những công việc đòi hỏi trách nhiệm cao.
+ Phụ cấp đêm: áp dụng đối với lao động làm việc nhiều hơn so với số giờ quy định của nhà nước...
7.2. Kế hoạch cung cấp vật tư
7.2.1. Nhiệm vụ
Nhiệm vụ cơ bản của kế hoạch cung cấp vât tư là phải giữ nguyên vật liệu ở mức hợp lý và tiếp nhận hay sản xuất của giá trị này vào thời gian thích hợp.
7.2.1. Nội dung của kế hoạch cung cấp vật tư
- Xác định định mức tiêu dùng nguyên vật liệu:
Định mức tiêu dùng nguyên vật liệu là lượng vật tư tiêu hao lớn nhất cho phép một lao động hay một nhóm người lao động hoàn thành công việc sản xuất một chi tiết, một sản phẩm hay một khối lượng công việc nào đó trong điều kiện về kinh tế, kỹ thật và tổ chức nhất định.
Cơ cấu của định mức tiêu dùng NVL:
+ Phần tiêu dùng thuần túy: là phần tiêu hao vật tư để cấu thành nên thực thể của sản phẩm, nó phụ thuộc vào khâu thiết kế của sản phẩm.
+ Phần tổn thất mang tính công nghệ: Đây là phần tổn thất không hoặc khó có thể tránh khỏi trong quá trình sản xuất. Phần tổn thất này có thể sử dụng lại được thì có thể sử dụng cho sản xuất chính hoặc sản xuất phụ.
+ Phần tổn thất do công tác quản lý: là phần tổn thất xảy ra trong trường hợp công tác quản lý yếu kém.
- Xác định lượng nguyên vật liệu cần dùng:
Lượng vật liệu cần dùng được tính toán cụ thể cho từng loại theo quy cách cho toàn DN. Khi tính toán phải dựa trên cơ sở định mức tiêu dùng nguyên vật liệu cho từng sản phẩm, đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của DN và vận dụng phương pháp tính toán thích hợp.
- Xác định lượng NVL dự trữ:
Lượng NVL dự trữ là lượng NVL tồn kho cần thiết được quy định trong kỳ kế hoạch để đảm bảo cho quá trình sản xuất được tiến hành liên tục.
Căn cứ vào tính chất, công dụng, NVL dự trữ được được chia thành 3 loại: Dự trữ thường xuyên, dự trữ bảo hiểm, dự trữ theo mùa.
+ Dự trữ thường xuyên: là lượng NVL cần thiết tối thiểu để đảm bảo cho sản xuất tiến hành bình thường giữa hai lần mua nguyên liệu.
+ Dự trữ bảo hiểm: là lượng NVL cần thiết để đảm bảo cho sản xuất được tiến hành bình thường khi dự trữ thường xuyên không đảm bảo do những bất trắc xảy ra.
+ Dự trữ theo mùa: Trong thực tế có những loại NVL chỉ mua được theo mùa, hoặc cũng có những loại NVL vận chuyển bằng đường thủy, mùa mưa không vận chuyển được thì phải vận chuyển theo mùa.
- Xác định lượng NVL cần mua:
Để cho quá trình sản xuất được tiến hành liên tục và việc sử dụng vốn lưu động có hiệu quả tốt thì DN phải tính lượng NVL cần mua trong năm. Lượng NVL cần mua phụ thuộc vào lượng vật liệu dự trữ đầu kỳ, lượng NVL cần dùng và lượng dự trữ cuối kỳ.
Vc= Vcd+Vd2- Vd1
Trong đó:
Vc: Lượng NVL cần mua
Vcd: Lượng NVL cần dùng
Vd1: Lượng NVL dự trữ đầu kỳ
Vd2: Lượng NVL dự trữ cuối kỳ
- Tổ chức thu mua và tiếp nhận NVl:
Tổ chức thu mua NVL là việc mà bất kỳ một DN sản xuất nào cũng phải thực hiện tốt. Dựa vào kế hoạch thu mua từ đó phòng vật tư tiến hành tổ chức thu mua để đảm bảo tiến độ sản xuất của DN.
Tổ chức tiếp nhận là bước chuyển giao trách nhiệm giữa bộ phận mua vận chuyển cho bộ phận quản lý NVL trong nội bộ DN.
Tổ chức tiếp nhận tốt sẽ tạo điều kiện cho thủ kho nắm chắc số lượng, chất lượng và chủng loại NVL, kịp thời phát hiện tình trạng của NVL, hạn chế hiện tượng nhầm lẫn, tham ô, thiếu trách nhiệm có thể xảy ra.
- Tổ chức bảo quản NVL:
Nguyên vật liệu là một trong những nhân tố quan trọng quyết định đến chất lượng sản phẩm. Vì vậy, việc bảo quản NVL không bị hư hỏng, kém chất lượng trước khi đưa vào sản xuất là một nhiệm vụ quan trọng cần phải thực hiện tốt. Trong DN có nhiều loại NVL, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác nhau, vì vậy cần có nhiều loại kho khác nhau để phù hợp với từng loại đối tượng dự trữ.
- Tổ chức cấp phát NVL:
+ Cấp khác theoyêu cầu của các bộ phận sản xuất: Theo hình thức này việc cấp phát chủ yếu dựa vào yêu cầu của các phân xưởng và bộ phận sản xuất gửi lên phòng vật tư. Dựa vào yêu cầu đó, phòng vật tư cấp phát cho các bộ phận sản xuất lên kho nhận NVL.
+ Cấp phát theo định mức: Can cứ vào mức tiêu dùng NVL, căn cứ vào số lượng và chủng loại sản phẩm đã được xác định trong kế hoạch tiến độ sản xuất, phòng vật tư lập phiếu cấp phát định mức giao cho các bộ phận sản suất. Căn cứ vào phiếu hạn định mức, bộ phận quản lý kho chuẩn bị và định kỳ cấp theo số lượng ghi trong phiếu. Trường hợp lượng vật tư nhận về không đủ cho sản xuất thì bộ phận sử dụng vật tư sẽ làm đề nghị để lãnh đạo DN quyết định.
- Tổ chức thanh quyết toán vật tư:
Thực chất của việc thanh quyết toán là đánh giá xem việc sử dụng vật tư tiết kiệm hay lãng phí để từ đó đua ra các biện pháp thích hợp nhằm khắc phục kịp thời. Bởi vậy, xét về mặt nội dung thì thanh quyết toán chỉ rõ nội dung sau:
+ Lượng NVL nhận trong thàng hoặc quý.
+ Lượng NVL đã được sử dụng để sản xuất ra sản phẩm chính.
+ Lượng NVL đã được sử dụng để sản xuất ra sản phẩm phế phấm
+ Lượng NVL đang còn tồn đọng trên dây chuyền sản xuất.
- Tổ chức thu hồi phế liệu, phế phẩm:
Về mặt nguyên tắc, mọi phế liệu, phế phẩm phát sinh trong quá trình sản xuất đều phải được thu hồi. Việc thu hồi phế phẩm không chỉ tạo điều kiện cho DN có thể tận dụng lại để tạo ra các sản phẩm chính hoặc sản phẩm phụ. Mặt khác, nó còn góp phần nâng cao ý thức trong việc sử dụng vật tư của các bộ phận sản xuất ra các sản phẩm phụ, đồng thời góp phần nâng cao trách nhiệm trong việc sử dụng vật tư của các bộ phận sản xuất và đảm bảo gìn giữ vệ sinh môi trường.
7.3. Kế hoạch giá thành sản phẩm
7.3.1. Ý nghĩa của kế hoạch giá thành sản phẩm
Không cần nói cũng biết trong một doanh nghiệp việc tính được giá thành sản phẩm hoặc dịch vụ tầm quan trọng sống còn. Tính được giá thành sẽ cho phép doanh nghiệp có một chiến lược về giá và kiểm soát được về lợi nhuận để sản phẩm mang tính cạnh tranh cao mà vẫn có lãi. Ngoài ra biết được các yếu tố cấu thành trong giá thành sẽ cho phép doanh nghiệp đề ra được những biện pháp tiết kiệm cụ thể cũng như tìm ra các “nút cổ chai” làm giảm năng suất chung của cả dây chuyền sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ.
7.3.2. Nội dung của kế hoạch giá thành sản phẩm
Việc tính giá thành sản phẩm theo từng lô sản xuất là sự vận dụng linh hoạt theo phương pháp xác định chi phí theo công việc. Các DN SX dược phẩm có quy trình công nghệ SX theo lô và kết thúc hoàn một lô SX mới, mỗi lô SX đòi hỏi sự theo dõi nghiêm ngặt về các tiêu chuẩn kỹ thuật cũng như định mức nguyên vật liệu. Chính vì vậy, nhằm tăng cường việc kiểm soát chi phí SX trong các DN SX dược phẩm, cần thiết phải tính giá thành sán phẩm theo từng lô SX.
Với đối tượng tính giá thành là từng lô SX, chi phí SX dở dang cuối kỳ sẽ là tổng chi phí tập hợp được cho các lô SX còn đang làm dở.
Để phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm theo lô SX, kế toán tiến hành lập phiếu tính giá thành lô SX. Phiếu tính giá thành lô SX sẽ tổng hợp và cung cấp các thông tin chi tiết về các chi phí SX trực tiếp cũng như chi phí chung phân bổ cho từng lô SX.

Để có thể thực hiện được việc tính giá thành cho từng lô SX như đã trình bày ở trên, các khoản trích theo lương của công nhân sản xuất cần được hạch toán tách biệt khỏi chi phí nhân công trực tiếp, bằng cách hạc toán vào khoản mục chi phí SX chung. Bên cạnh đó, do trong kỳ, chi phí SX chung được phân bổ cho từng lô SX theo tỷ lệ ước tính từ đầu kỳ, nên thường sẽ phát sinh phần chênh lệch giữa chi phí SX chung thực tế phát sinh với phần chi phí SX chung đã phân bổ. Phần chênh lệch này sẽ được hạch toán vào TK 632 (nếu nhỏ) hoặc phân bổ cho các TK 632, 155 và 154 (nếu lớn). Quá trình hạch toán này được khái quát qua sơ đồ sau:

Điều kiện thực hiện
Để có thể áp đụng được phương pháp xác định chi phí thông thường và tính giá thành cho từng lô sản xuất như trên, các DN SX dược phẩm cần tiến hành phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động cũng như khả năng quy nạp chi phí cho các đối tượng chịu phí, trên cơ sở đó sẽ tiến hành lập dự toán chi phí. Dự toán chi phí nên được lập tổng quát cho toàn DN trong một kỳ cũng như cần cụ thể cho từng lô sản xuất, đó sẽ là một trong những cơ sở để DN đánh giá hiệu quả sử dụng chi phí.
Có thể nhận thấy những đề xuất đổi mới phương pháp tính giá thành sản xuất sản phẩm trong các DN SX dược phẩm như trên sẽ làm tăng đáng kể khối lượng công việc kế toán so với hiện tại. Nhằm nâng cao tính khả thi của các đề xuất đổi mới này, cần có các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi và giảm nhẹ khối lượng công việc cho bộ máy kế toán. Trên phương diện lý luận, các phương pháp và kỹ thuật kế toán quản trị nội bộ không nhất thiết phải tuân thủ các nguyên tắc của kế toán tài chính. Tuy nhiên, nếu để tồn tại song song hai phương pháp kế toán: phương pháp chi phí thực tế như hiện tại để phục vụ mục tiêu của hệ thống kế toán tài chính và phương pháp chi phí thông thường như đề xuất để phục vụ mục tiêu của kế toán quản trị chi phí thì không khả thi do quá cồng kềnh. Hơn nữa, cần khẳng định rằng, việc tính giá thành theo phương pháp chi phí thông thường không vi phạm các chuẩn mực kế toán về hàng tồn kho cũng như thông tin trên các báo cáo tài chính. Chính vì vậy, Bộ Tài chính (Vụ chế độ Kế toán và Kiểm toán, Tổng Cục Thuế) cần có sự chấp thuận chính thức bằng văn bản đối với phương pháp chi phí thông thường trong hệ thống kế toán tài chính cũng như kế toán thuế nhằm giảm bớt khó khăn cho các DN khi xây dựng và vận hành hệ thống kế toán quản trị chi phí.
Bên cạnh đó, việc hạch toán các khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và kinh phí công đoàn cho công nhân sản xuất, theo các hướng dẫn của kế toán tài chính hiện nay là tính vào chi phí nhân công trực tiếp, nhưng để có thể tính được giá thành cho từng lô sản xuất như đề xuất thì sẽ gây khó khăn cho công tác kế toán tại đơn vị. Tuy nhiên, việc hạch toán các khoản này vào chi phí SX chung cũng không phải là vi phạm các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán và cũng đã được hệ thống kế toán của nhiều nước áp dụng, như tại Mỹ và Anh. Hoặc tại Việt Nam, các đơn vị xây lắp cũng được phép hạch toán các khoản này vào chi phí SX chung cũng xuất phát từ thực tế lập dự toán chi phí cho các công trình. Vì vậy, Bộ Tài chính cũng nên cho phép các DN SXKD dược phẩm hạc toán các khoản trích BHXH, BHYT và Công đoàn cho công nhân vào chi phí SX chung nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp SX dược phát huy thế mạnh và giảm bớt khó khăn cũng như thời gian trong công tác quản lý, điều hành.
7.3.3. Các biện pháp hạ giá thành sản phẩm
Hiện nay, để có thể tăng sức cạnh tranh trên thị trường, Công ty phải có các biện pháp hạ giá thành sản phẩm bằng cách chọn lọc các các nhà cung ứng vật tư, nguyên liệu đầu vào với chất lượng phù hợp, giá cả hợp lý, đảm bảo được thời gian giao nhận. Ngoài ra, mức tiêu hao vật tư trong Công ty còn lớn làm ảnh hưởng nhiều đến giá thành. Công ty áp dụng hệ thống quản lý chất lượng đạt tiêu chuẩn ISO 2001: 2000, quản lý chặt chẽ từ khâu nguyên liệu đầu vào đến khi ra thành phẩm và bán hàng. Ngoài ra, để giảm bớt mức tiêu hao và hạ giá thành sản phẩm, công ty chủ trương đẩy mạnh công tác thống kê, xác định công nghệ sản xuất phù hợp với yêu cầu của khách hàng và năng lực sản xuất của công ty.