
Hệ thống quản trị đào tạo trực tuyến
2.1. Loại hình sản xuất gia công
Loại hình sản xuất gia công là hệ thống sản xuất bao gồm nhiều máy công cụ điều khiển có thể thay thế hoặc bổ sung cho nhau, hoặc vừa kết hợp vừa thay thế vừa bổ sung lẫn nhau như tiện + phay, phay + khoan, tiện + khoan...để tạo khả năng gia công nhiều loại chi tiết với kích cỡ thay đổi nhất định. Loại hình này có khả năng gia công một chủng loại chi tiết cơ khí nhất định theo trình tự công nghệ tuỳ chọn và thời gian điều chỉnh không đáng kế. Khả năng đó có được là do những dụng cụ gia công với số lượng cho trước, được sắp đặt sẵn trong ổ tích dụng cụ trung tâm và được cung ứng kịp thời với thời gian thao tác ngắn.
2.2. Loại theo mức độ tập trung và tự động hoá
Loại hình này là giai đoạn phát triển tiếp theo của nền sản xuất cơ khí hoá. Nó sẽ thực hiện phần công việc mà cơ khí hoá không thể đảm đương được đó là điều khiển quá trình. Với các thiết bị vạn năng và bán tự động, các chuyển động phụ (tác động điều khiển) do người thợ thực hiện, còn trên phần thiết bị tự động hoá và máy tự động, toàn bộ quá trình làm việc đều được thực hiện tự động không cần đến sự tham gia trực tiếp của con người. Con người lúc này chỉ có nhiệm vụ chuẩn bị các cơ cấu và theo dõi quá trình làm việc của chúng.
Tự động hoá các quá trình sản xuất luôn gắn liền với quá trình hoàn thiện và đổi mới công nghệ. Nó là bài toán thiết kế công nghệ phù hợp, có nhiệm vụ tạo ra kỹ thuật hoàn toàn mới dựa trên cơ sở các quá trình công nghệ gia công, kiểm tra, lắp ráp tiên tiến.
2.3. Loại hình sản phẩm
Có hai loại hình sản phẩm, đó là:
2.3.1. Loại hình sản phẩm tạo ra các sản phẩm hữu hình có thể lưu trữ tồn kho trong những chừng mực nhất định. Do đó, DN cần phải lập kế hoạch lưu giữ tồn kho hợp lý sao cho nó có thể phục vụ khách hàng nhanh hơn thời gian cần thiết để mua sắm nguyên vật liệu và chế biến thành phẩm cuối cùng.
2.3.2. Loại hình sản phẩm tạo ra các sản phẩm vô hình (dịch vụ), loại hình này tạo ra những sản phẩm không có hình dáng vật chất cụ thể mà tạo ra sản phẩm vô hình (dịch vụ). Đây là các sản phẩm không thể tồn kho được. Nên trong việc đáp ứng nhu cầu thay đổi, sản xuất dịch vụ thường tìm cách dịch chuyển cầu. Vì thế, hiệu suất sử dụng năng lực sản xuất của hệ thống dịch vụ thường thấp hơn so với loại hình trên.
2.4. Loại hình đặt hàng
Đây là loại hình mà các sản phẩm cuối cùng sẽ hoàn thành sau khi nhận được đơn đặt hàng của khách hàng. Nếu là các sản phẩm duy nhất chỉ phục vụ cho một khách hàng thì phải tính đến cả thời gian đủ để mua nguyên vật liệu và chế biến, vì người sản xuất không thể đoán trước được những gì mà khách hàng cần để dự trữ nguyên vật liệu. Trên thực tế, các DN thuộc loại này ít nhiều đều có sẵn một vài bộ phận, chi tiết hoặc nguyên vật liệu thường dùng. Hệ thống sản xuất này phục vụ cho các nhu cầu có khối lượng nhỏ, sản phẩm đa dạng, không đạt chuẩn.
2.5. Loại hình thị trường hoặc dây chuyền công nghiệp
Là loại hình sản xuất trong đó các máy móc thiết bị, nơi làm việc được thiết đặt dựa trên cơ sở phối hợp một các hợp lý các bước công việc để biến các đầu vào thành các chi tiết, bộ phận hay sản phẩm nhất định.
Các đặc tính cơ bản của loại hình này là:
- Các tuyến công việc và các máy móc thiết bị được thiết đặt khá ổn định khi chuyển từ chế tạo sản phẩm này sang sản phẩm khác.
- Dòng dịch chuyển của vật liệu tương đối liên tục.
- Tính lặp lại của công việc trên nơi làm việc cao, đặc biệt trong sản xuất khối lượng lớn.
- Sản phẩm của hệ thống sản xuất này là sản phẩm tiêu chuẩn, có thể có nhu cầu hoặc đặt hàng với khối lượng lớn.