8.1. Thiết kế tổ chức kho bãi

  8.1.1 Khái niệm chung

     a. Vai trò của công tác kho bãi

Một trong những điều kiện hàng đầu để đảm bảo việc xây dựng công trình đúng thời hạn, đạt chất lượng cao là công tác cung ứng vật tư kỹ thuật, trong đó chủ yếu là việc tổ chức hệ thống kho bãi một cách hợp lý. Vai trò của công tác kho bãi:

·  Tỷ trọng chi phí vật tư trong giá thành công trình, tùy theo đặc điểm công trình có thể chiếm (70-80)% tổng chi phí trực tiếp.

·  Từ vận chuyển đến sử dụng thông thường vật tư phải qua một số giai đoạn như nhập kho, phân loại, thí nghiệm, xuất kho…do đó, việc quản lý tổ chức kho bãi công trường là khá quan trọng trong thi công xây dựng.

·  Đảm bảo nguồn dự trữ vật tư cho công trình.

     b. Phân loại kho bãi công trường

·  Theo tính chất bảo quản ở kho, bãi.

- Kho hở (kho lộ thiên): dưới dạng các bãi ở công trường, để bảo quản các loại vật tư không bị ảnh hưởng của điều kiện thời tiết như to, W, mưa, nắng…Vd: cát, đá, gạch, ngói, kết cấu bêtông đúc sẵn…

- Kho bán lộ thiên: là dạng nhà có mái che không có tường bao quanh để bảo quản các loại vật tư có thể chịu được sự thay đổi về to, W nhưng không chịu được tác động trực tiếp của mưa, nắng…vd: gỗ xẻ, thép, thiết bị công nghệ…

- Kho kín: thường được xây dựng có mái che và có tường bao quanh, dùng để bảo quản các loại vật tư không thể chịu được ảnh hưởng của thời tiết hoặc các loại vật tư rời, thiết bị dễ mất mát…đối với một số loại vật tư còn có trang bị hệ thống cách ẩm, thông gió…

- Kho chuyên dùng: bảo quản những loại vật tư có yêu cầu đặc biệt về phòng chống cháy nổ (xăng, dầu, hóa chất, chất nổ..), có thể xây dựng ngầm hoặc nổi trên mặt đất, có điều kiện về đảm bảo an toàn và thường được bố trí thành các khu riêng biệt trên công trình.

·  Theo vị trí đặt kho và phạm vi phục vụ.

- Kho trung chuyển: dùng để bảo quản vật tư trong thời gian ngắn trước khi vận chuyển đến địa điểm khác, thường được xây dựng ở các đầu mối giao thông, nơi tiếp giáp giữa hai loại hình vận chuyển (đường sắt-đường bộ, đường thủy-đường bộ..).

- Kho trung tâm (tổng kho cung ứng): dùng bảo quản vật liệu trong thời gian dài, khối lượng lớn, phục vụ cho nhiều công trình, nhiều khu vực xây dựng khác nhau…, thường được bố trí ở khu tập trung mật độ xây dựng cao, thuận tiện về giao thông vận tải.

   Hai loại kho này thường nằm ngoài phạm vi công trường và là đầu mối của hệ thông cung ứng vật tư tập trung theo kế hoạch.

- Kho công trường: dùng bảo quản và cung cấp vật tư cho toàn công trường.

- Kho công trình: dùng bảo quản và cung cấp vật tư cho từng công trình, hạng mục công trình.

- Kho xưởng: để phục vụ cho các xưởng gia công, để chứa các nguyên liệu sản xuất và các sản phảm sản xuất ra. Thường là thành phần của các xưởng, được bố trí trên mặt bằng của xưởng đó.

  Ngoài ra, còn phân loại dựa trên thời gian sử dụng hay dạng kết cấu được sử dụng làm kho bãi.

  8.1.2. Nội dung thiết kế

     a. Xác định lượng vật tư cần dự trữ (Qdtr): phụ thuộc các yếu tố:

·  Lượng vật tư tiêu thụ hàng ngày theo từng loại, theo yêu cầu tiến độ qi.

·  Điều kiện cung ứng và vận chuyển: nguồn, loại phương tiện vận chuyển, cự ly vận chuyển Li.

·  Đặc điểm của từng loại vật tư và yêu cầu xử lý trước khi sử dụng (thí nghiệm vật liệu, khuếch đại kết cấu…).

Lượng vật tư bảo quản ở kho cần đảm bảo cho việc thi công được liên tục và không lớn quá, bao gồm các loại dự trữ: dự trữ thường xuyên, dự trữ vận tải, dự trữ bảo hiểm…được xác định như sau:



Với:           q: lượng vật tư tiêu thụ lớn nhất trong ngày, xác định căn cứ vào biểu đồ sử dụng vật tư hàng ngày và lấy giá trị lớn nhất hoặc căn cứ vào tổng số lượng vật tư cần sử dụng và khoảng thời gian sử dụng nó:  

   Với:         Q: tổng khối lượng vật tư sử dụng trong kỳ;

                   T: thời gian sử dụng loại vật tư đó;

                   : hệ số tính đến mức độ sử dụng không đều.   

          t1, t2, t3: là thời gian dự trữ vật liệu thường xuyên, dự trữ vận tải, dự trữ bảo   hiểm. Để đơn giản có thể lấy thời gian dự trữ chung tdtr=t1+ t2+ t3; tdtr tra bảng 1-phụ lục 2.

Ngoài ra, Qdtr có thể lấy từ giá trị lớn nhất trên biểu đồ dự trữ vật tư.